vanban.org

Bản án 56/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T. Buộc ông Nguyễn Hoàng T phải trả cho ông Trần Thanh H 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng). (trong đó nợ gốc 40.000.000đ, nợ lãi 1.000.000đ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Trần Thanh H - Nguyễn Hoàng T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2022/DS-ST
Ngày: 09- 9-2022
V/v tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Đào.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Hoàng Bá;

2. Bà Đoàn Sơn Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Khổng Phúc Vĩnh Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 06 năm 2022 về tranh chấp đòi lại tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXX-ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2022/QĐST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1976

Địa chỉ: ấp 2, xã V, huyện B, TP. H.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện V, thành phố C.

3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1965.

Địa chỉ: ấp G2, xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

(Ông H có mặt, ông T vắng mặt, ông P yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Thanh H trình bày và yêu cầu giải quyết như sau: Ngày 25/02/2021 ông có mua của ông Nguyễn Hoàng T chiếc xe gắn máy với giá 65.000.000đ, đã giao đủ tiền và nhận xe xong. Việc mua bán có chứng thực của UBND xã T, huyện V, thành phố C nhưng khi tiến hành làm thủ tục đăng ký lại xe gắn máy thì mới biết số máy, số khung của chiếc xe có dấu hiệu bị đục, khắc giả mạo để khớp với giấy đăng ký xe nên ngày 01/11/2021 ông và ông T đã cùng nhau thỏa thuận thống nhất làm tờ khất nợ theo đó ông T sẽ trả cho ông lại 60.000.000đ và ông tự nguyện cho lại ông T 5.000.000đ và trả lại xe cho ông T cùng ngày ông T đã trả được 20.000.000đ còn nợ lại 40.000.000đ hứa sẽ trả mỗi tuần 10.000.000đ trong vòng 1 tháng sẽ trả xong trước ngày 01/12/2021 nhưng đến nay ông T vẫn chưa trả mà chỉ hứa hẹn tìm mọi cách trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nay ông yêu cầu buộc ông Nguyễn Hoàng T phải trả cho ông 40.000.000đ và tiền lãi 0,75%/1 tháng tính từ ngày 01/12/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không tham gia tố tụng.

Người làm chứng ông Nguyễn Thanh P trình bày: Ông là cha ruột của ông T, việc ông T có nợ 40.000.000đ của ông H thì ông có biết. Ông có gặp ông H bàn về việc sẽ kiếm tiền trả nợ giúp cho ông T mỗi tháng 5.000.000đ nhưng đến nay ông vẫn chưa trả được do khó khăn. Hiện ông T đi làm xa không có mặt ở địa phương và nợ này là nợ của ông T không liên quan gì đến ông nên ông cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do bận công việc nên ông xin xét xử vắng mặt.

Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn đều vắng mặt nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 40.000.000đ nợ gốc, 1.000.000đ nợ lãi, không yêu cầu gì khác. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để kết luận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 40.000.00đ nợ gốc, 1.000.000đ nợ lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Trần Thanh H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hoàng T trả 40.000.000đ nợ gốc, 1.000.000đ nợ lãi. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là“tranh chấp đòi lại tài sản”. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T có nơi cư trú tại ấp G, xã T, huyện V, thành phố C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, cũng không có căn cứ cho việc vắng mặt của ông Tlà do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến giải quyết vụ án nên căn cứ các Điều 227, 228 và 229 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người làm chứng là phù hợp.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn ông H có mua một chiếc xe gắn máy do ông T bán lại nhưng việc mua bán không thành nên hai bên đã thống nhất thỏa thuận ông T sẽ trả lại cho ông H 60.000.000đ còn ông H trả lại xe cho ông T. Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông T đã trả được 20.000.000đ còn nợ lại 40.000.000đ chưa trả nên hai bên phát sinh tranh chấp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại giấy bán xe mô tô, xe máy ngày 25/2/2021 giữa ông H và ông Th là do hai bên tự nguyện ký kết, được chứng thực tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện V, thành phố C thể hiện rõ ông T đã nhận 65.000.000đ tiền bán xe cho ông H nên việc mua bán của các bên là sự thật. Tại Giấy khất nợ có ghi nội dung “anh T đã đồng ý và đã chuyển khoản qua tài khoản trước cho anh H 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) số tiền còn nợ lại 40.000.000đ anh T phải trả trong vòng 01 tháng…” nhưng đến nay ông T vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ, sự việc này cũng được ông P là cha ruột ông T xác nhận nên các chứng cứ nguyên đơn giao nộp cũng như Tòa án thu thập được đủ cơ sở xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với bị đơn quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông T không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có văn bản hay giao nộp các tài liệu, chứng để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ trả tiền được quy định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, căn cứ lời khai của nguyên đơn, Giấy mua bán xe mô tô, xe máy ngày 25/02/2021 giữa hai bên có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã Thạnh an, Giấy khất nợ ngày 01/11/2021 ông T có ký tên và lăn tay xác nhận và lời khai ông P về việc biết ông T còn nợ tiền ông H thì Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng T trả 40.000.000đ nợ gốc, 1.000.000đ nợ lãi được qjuy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về tiền lãi: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải lãi phải trả từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày 01/12/2021 tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 09/9/2022. Cụ thể nợ lãi được tính như sau: Nợ gốc 40.000.000đ x 0,75%/tháng x 9 tháng (làm tròn) = 2.700.000đ. Xét thấy, lãi suất nguyên đơn yêu cầu là 12,75%/năm là không vượt quá 20%/năm nên phù hợp theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bị đơn trả 1.000.000đ nợ lãi. Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và cũng có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những tình tiết và sự kiện đã phân tích, đủ cơ sở xác định việc bị đơn còn nợ của nguyên đơn 40.000.000đ là có thật. Do đó, cần buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 40.000.000đ nợ gốc, 1.000.000đ nợ lãi là có căn cứ.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Xét phát biểu của Viện kiểm sát về phần thủ tục tố tụng cũng như đề xuất nội dung giải quyết vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 229, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 166, 280, 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T.

1. Buộc ông Nguyễn Hoàng T phải trả cho ông Trần Thanh H 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng). (trong đó nợ gốc 40.000.000đ, nợ lãi 1.000.000đ).

Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chậm trả tiền thì còn phải trả lãi suất phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả được xác định theo sự thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Hoàng T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 2.050.000đ (Hai triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).

Ông Trần Thanh H được nhận lại 1.025.000đ (Một triệu không trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006251 ngày 05/05/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ