- Tranh chấp gì? án dân sự — "Bản án Mạo và Lê"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2022/DS-ST. Ngày: 11/7/2022. V/v: “T/c hợp đồng mua bán tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông LVăn An
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Lập
2. Ông Nguyễn Thành Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh – Thư ký TAND huyện Hòn Đất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 129/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST-DS ngày 13/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2022/QĐST-DS ngày 01/7/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Văn M.
Người đại diện hộ kinh doanh: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Hòa Tiến, xã Nam Thái Sơn, huyện HĐ, tỉnh KG..
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Lê, sinh năm 1968 (có mặt) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp Hòa Tiến, xã Nam Thái Sơn, huyện HĐ, tỉnh KG..
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1979 (vợ ông M – có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Hòa Tiến, xã Nam Thái Sơn, huyện HĐ, tỉnh KG.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 15/4/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa người đại diện hộ kinh doanh ông Nguyễn Văn M trình bày như sau:
Vào ngày 30/8/2020 vợ chồng ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N có đến cửa hàng vật tư nông nghiệp Nguyễn M do tôi làm chủ để mua phân bón và thuốc trừ sâu và một số vật tư nông nghiệp với số tiền là 460.109.000 đồng. Phía cửa hàng của tôi đã giao đủ số lượng vật tư nông nghiệp cho phía vợ chồng ông Lvà bà N. Khi mua bán hai bên có làm hợp đồng mua vật tư nông nghiệp đề ngày 30/8/2020. Theo nội dung hợp đồng mà các bên đã ký kết vào ngày 30/8/2020 thì phía vợ chồng ông Lvà bà N sẽ thanh toán cho bên tôi số tiền nêu trên trong thời hạn 04 tháng, nếu quá thời hạn 04 tháng kể từ ngày 30/8/2020 phía ông Lvà bà N không trả số tiền gốc nêu trên thì sẽ trả lãi cho tôi tiền lãi là 2,5% trên tổng số nợ gốc.
Tuy nhiên hết thời hạn 04 tháng tính từ ngày 31/12/2020 cho đến nay thì phía bên vợ chồng ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N vẫn cố tình không thanh toán cho hộ kinh doanh của tôi số tiền nợ gốc mua bán vật tư nông nghiệp này và cũng không thanh toán lãi cho hộ kinh doanh của tôi theo như hợp đồng mua bán vật tư nông nghiệp đã ký kết giữa các bên, mặc dù tôi đã nhiều lần liên hệ phía vợ chồng ông Lvà bà N để yêu cầu có trách nhiệm thanh toán số nợ này cho tôi, nhưng phía ông Lvà bà N cố tình trốn tránh trách nhiệm thanh toán nợ.
Do đó nay tôi yêu cầu tòa án buộc ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải trả cho hộ kinh doanh Nguyễn Văn M số tiền gốc còn nợ mua bán vật tư nông nghiệp với số tiền là 460.109.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu, một trăm lẻ chín ngàn đồng) và tiền lãi tạm tính từ ngày 30/8/2020 đến ngày 30/3/2022. Cụ thể tiền lãi như sau: 460.109.000 đồng x 20 tháng x 1,5%/tháng = 138.032.000 đồng.
Tổng cộng tôi yêu cầu Tòa án buộc ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải trả cho tôi số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ gốc và tiền lãi tạm tính từ ngày 30/8/2020 đến ngày 30/3/2022 là 598.141.000 đồng (trong đó tiền gốc là 460.109.000 đồng, tiền lãi là 138.032.000 đồng) và yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi từ ngày 01/4/2022 cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm xong và yêu cầu trả nợ một lần.
Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay phía người đại diện hộ kinh doanh ông Nguyễn Văn M xin rút lại một phần yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải trả cho hộ kinh doanh của ông M số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ gốc và tiền lãi tính từ ngày 31/12/2020 đến ngày tòa án xét xử sơ thẩm là ngày 11/7/2022. Cụ thể tiền lãi như sau: 460.109.000 đồng x 19 tháng x 1,5%/tháng = 131.131.000 đồng.
Tổng cộng yêu cầu Tòa án buộc ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải trả cho hộ kinh doanh của ông Nguyễn Văn M số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ gốc và tiền lãi tính từ ngày 31/12/2020 đến ngày 11/7/2022 là 591.240.000 đồng (trong đó tiền gốc là 460.109.000 đồng, tiền lãi là 131.131.000 đồng). Làm tròn chỉ yêu cầu trả số tiền là 590.000.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Văn Ltrình bày như sau:
Tôi thừa nhận trước đây vợ chồng tôi có đến cửa hàng vật tư nông nghiệp Nguyễn M để mua phân bón và thuốc trừ sâu và một số vật tư nông nghiệp nhiều lần với số tiền là 460.109.000 đồng. Đến ngày 30/8/2020 hai bên có làm biên nhận nợ theo đó vợ chồng tôi còn nợ phía ông Nguyễn Văn M số tiền mua bán vật tư nông nghiệp là 460.109.000 đồng. Số tiền này vợ chồng tôi mua vật tư nông nghiệp của hộ kinh doanh ông M với mục đích về sản xuất nông nghiệp trong gia đình và sinh hoạt trong gia đình, nhưng do làm ăn thua lỗ nên chưa có tiền trả lại cho cửa hàng của ông Nguyễn Văn M.
Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn M yêu cầu Tòa án buộc tôi và vợ tôi là bà Nguyễn Thị N phải trả cho ông M số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ gốc và tiền lãi tính từ ngày 31/12/2020 đến ngày 11/7/2022 làm tròn là 590.000.000 đồng (trong đó tiền gốc là 460.109.000 đồng, tiền lãi là 131.131.000 đồng) thì vợ chồng tôi cũng đồng ý trả số nợ này. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình tôi khó khăn nên tôi yêu cầu được trả dần số tiền này cho hộ kinh doanh của ông Nguyễn Văn M, trong thời gian 06 tháng sẽ trả số tiền 75.000.000 đồng cho đến khi trả hết số nợ trên.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 17/5/2022 và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày như sau:
Tôi là đồng bị đơn trong vụ án nêu trên. Tôi là vợ của ông Huỳnh Văn Lê. Vợ chồng tôi đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và thông báo hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đối với vụ việc tranh chấp giữa vợ chồng tôi với ông Nguyễn Văn M. Tôi thừa nhận trước đây vợ chồng tôi có đến cửa hàng vật tư nông nghiệp Nguyễn M do ông Nguyễn Văn M làm chủ để mua phân bón, thuốc trừ sâu nhiều lần để sản xuất nông nghiệp trong gia đình. Vợ chồng chúng tôi thừa nhận đến ngày 30/8/2020 hai bên chúng tôi có tổng kết nợ lại với nhau, theo đó phía vợ chồng tôi còn nợ lại ông M số tiền mua bán vật tư nông nghiệp với số tiền gốc là 460.109.000 đồng, đối với số tiền này vợ chồng chúng tôi chưa thanh toán cho ông M vì hoàn cảnh gia đình hiện nay gặp nhiều khó khăn.
Nay phía cửa hàng vật tư nông nghiệp Nguyễn M do ông Nguyễn Văn M làm chủ khởi kiện yêu cầu vợ chồng tôi phải trả lại cho ông M với số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ gốc là 460.109.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 31/12/2020 đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì vợ chồng tôi cũng đồng ý trả số nợ này cho ông M. Tuy nhiên vì hoàn cảnh gia đình chúng tôi hiện nay rất khó khăn, không có khả năng trả một lần nên đề nghị được xin trả dần số tiền gốc và lãi trong thời gian 06 tháng sẽ trả số tiền 75.000.000 đồng cho đến khi trả hết số nợ trên.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ X trình bày như sau:
Tôi và ông Nguyễn Văn M là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hiện nay chồng tôi là ông Nguyễn Văn M khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất để yêu cầu ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải thanh toán số tiền gốc còn nợ mua bán vật tư nông nghiệp với số tiền là 460.109.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 30/8/2020 đến ngày 30/3/2022 là 138.032.000 đồng. Tổng cộng số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ gốc và tiền lãi tạm tính từ ngày 30/8/2020 đến ngày 30/3/2022 là 598.141.000 đồng (trong đó tiền gốc là 460.109.000 đồng, tiền lãi là 138.032.000 đồng) và yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi từ ngày 01/4/2022 cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm xong thì tôi đề nghị tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chồng tôi. Đối với số tiền này chúng tôi là vợ chồng thì chúng tôi tự sắp xếp với nhau, tôi không có yêu cầu gì trong vụ án này, tôi cũng không có yêu cầu độc lập. Ý kiến của chồng tôi tại phiên tòa như thế nào thì tôi cũng đồng ý, tôi không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đồng thời do bận công việc mua bán, không có thời gian đi lại nên tôi đề nghị Tòa án cho tôi xin được vắng mặt tại các buổi hòa giải, xét xử sơ thẩm.
* Tại phiên tòa vị đại diện VKS phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải trả cho nguyên đơn số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ và tiền lãi tính từ ngày 31/12/2020 đến ngày 11/7/2022; tổng cộng tiền gốc và lãi là 590.000.000 đồng (trong đó tiền gốc là 460.109.000 đồng, tiền lãi là 131.131.000 đồng), đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi do nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện; buộc phía bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết: Đại diện hộ kinh doanh ông Nguyễn Văn M khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải trả cho ông số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ gốc và lãi là 590.000.000 đồng. Ông Lvà bà N cư trú trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ X đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt bà X theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự HĐXX có cơ sở nhận định như sau: Vào năm 2020 ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N có đến cửa hàng vật tư nông nghiệp Nguyễn M do ông Nguyễn Văn M làm chủ để mua vật tư nông nghiệp về sản xuất nông nghiệp trong gia đình nhiều lần. Đến ngày 30/8/2020 các bên có tổng kết nợ lại với nhau, theo đó ông Lvà bà N còn nợ phía ông M số tiền gốc mua vật tư nông nghiệp là 460.109.000 đồng. Tại biên bản ghi lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Lvà bà N đều thừa nhận còn nợ cửa hàng Nguyễn M do ông Nguyễn Văn M làm chủ số tiền mua bán vật tư nông nghiệp nêu trên nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn M yêu cầu vợ chồng ông Lvà bà N phải trả cho ông số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ tổng cộng là 590.000.000 đồng; trong đó tiền gốc là 460.109.000 đồng, tiền lãi là 131.131.000 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc mua bán hàng hóa giữa các bên được thỏa thuận với hình thức mua bán gối đầu, khi mua bán đều có lập sổ và ký nhận, đến ngày 30/8/2020 các bên có kết nợ bằng văn bản (BL03), bên bán là ông M đã thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng, bên mua ông Lvà bà N đã nhận hàng nhưng chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Theo quy định tại các Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự 2015: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.
Đối chiếu với các quy định trên cho thấy việc ông M yêu cầu ông Lvà bà N phải trả cho hộ kinh doanh của ông M số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ gốc 460.109.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn đối với số tiền chậm trả với mức lãi suất là 1,5%/tháng trên số tiền nợ gốc mua vật tư nông nghiệp là 460.109.000 đồng từ ngày 31/12/2020 đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy: Hai bên kết nợ với nhau vào ngày 30/8/2020, tuy nhiên từ thời gian này cho đến nay phía ông Lvà bà N vẫn chưa thanh toán số tiền nợ gốc và lãi cho phía cửa hàng của ông M. Căn cứ Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 thì yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là phù hợp và có cơ sở để được HĐXX xem xét chấp nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay ông Lvà bà N đồng ý trả số nợ gốc tiền mua bán vật tư nông nghiệp 460.109.000 đồng và tiền lãi là 131.131.000 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi làm tròn là 590.000.000 đồng thì vợ chồng ông bà cũng đồng ý trả số nợ này cho phía cửa hàng của ông M nhưng hiện nay vì hoàn cảnh gia đình ông bà hiện nay rất khó khăn, không có khả năng trả một lần, yêu cầu xin được trả dần số tiền này cụ thể xin trả dần số tiền gốc và lãi trong thời gian 06 tháng với số tiền là 75.000.000 đồng cho đến khi trả hết số nợ trên.
Căn cứ vào mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 01 ngày 19/6/1997 của TANDTC - VKSNDTC- Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính hướng dẫn về việc xét xử và thi hành án về tài sản quy định “…Tòa án không tự ấn định trong bản án, quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành …”. Đồng thời tại phiên tòa hôm nay phía nguyên đơn không đồng ý cho vợ chồng ông Lvà bà N được trả dần. Do đó HĐXX miễn xét.
Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên là có cơ sở để HĐXX xem xét chấp nhận trong quá trình nghị án.
Từ những cơ sở trên, HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải cho hộ kinh doanh ông Nguyễn Văn M số tiền mua bán vật tư nông nghệp còn nợ tổng cộng gốc và lãi là 590.000.000 đồng (trong đó tiền gốc là 460.109.000 đồng, tiền lãi là 131.131.000 đồng). Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi do nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 27.600.000 đồng.
Nguyên đơn không phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 357, Điều 430, Điều 434, Điều 440, và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên xử:
1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người đại diện hộ kinh doanh ông Nguyễn Văn M về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải trả nợ tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ.
1.1. Buộc ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải trả cho hộ kinh doanh cá thể Nguyễn Văn M do ông Nguyễn Văn M làm đại diện số tiền mua bán vật tư nông nghiệp còn nợ tổng cộng gốc và lãi là 590.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi triệu đồng).
1.2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp khoản tiền trên, người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2/. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi do nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện.
3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn Lvà bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 27.600.000 đồng.
Hoàn trả lại cho hộ kinh doanh Nguyễn Văn M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.963.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007829 ngày 21/4/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
4/. Quyền kháng cáo: Án xử công khai. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân huyện Hòn Đất; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ LVăn An |