- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn V và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Quách Văn V, Bùi Mong Ƣ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN TX TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2021/HS-ST Ngày 28 tháng 12 năm 2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TX, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Lê Sỹ H
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Xuân T.
2. Bà Trần Phƣơng Th.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình T - Thƣ ký của TAND huyện TX, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TX, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện TX, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2021/TLST- HS ngày 13/12/2021 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 59/2021/QĐXXST- HS ngày 14/12/2021 đối với các bị cáo:
1.Quách Văn V(tên gọi khác: không); sinh năm 1994 tại: xã Ng, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; Trú tại: thôn NT, xã Ng, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Mƣờng; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Đ(đã chết) và bà Quách Thị H; Bị cáo chƣa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thƣờng Xuân (Có mặt tại phiên tòa).
2.Bùi Mong Ƣ(tên gọi khác: không); sinh năm 1995 tại: xã Ng, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; Trú tại: thôn NT, xã Ng, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Mƣờng; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Hùng N và bà Lê Thị Nh; Có vợ là: Bùi Thị L, sinh năm 1995(đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thƣờng Xuân (Có mặt tại phiên tòa).
3. Ngƣời bị hại: Ông Trịnh Phú Hƣng – sinh năm 1971(có mặt).
Trú tại: Thôn Xuân Lập, xã Ngọc Phụng, huyện Thƣờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
4. Ngƣời làm chứng: Anh Lê Khắc Hiệp – sinh năm 1987(vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Nguyệt Trung, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 17 giờ 00 ngày 30/9/2021, Công an xã Ngọc Phụng, huyện Thƣờng Xuân tiếp nhận báo cáo của ông Trịnh Phú Hƣng, sinh năm 1971, trú tại thôn Xuân Lập, xã Ngọc Phụng về việc: Khoảng 16 giờ 00 ngày 30/9/2021, ông Trịnh Phú Hƣng điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX BKS 36M1-115.35 giá trị khoảng 24.300.000đ, đến khu vực cánh đồng thuộc ngõ số 4, thôn Xuân Lập, xã Ngọc Phụng thì ông Hƣng dựng xe tại lề đƣờng, xuống làm đồng cùng với con rể là anh Lê Văn Thành, sinh năm 1994, trú cùng thôn, chìa khóa xe ông Hƣng vẫn cắm tại ổ khóa; bên trong cốp xe có chứa 01 điện thoại Samsung Galaxy A32 trị giá khoảng 6.000.000đ của ông Hƣng. Khi làm đồng xong, ông Hƣng và anh Thành đi lên vị trí để xe mô tô thì phát hiện xe mô tô đã bị kẻ gian trộm cắp. Sau khi tiếp nhận báo cáo của ông Trịnh Phú Hƣng, Công an xã Ngọc Phụng đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Thƣờng Xuân giải quyết.
Ngày 01/10/2021, qua xác minh Cơ quan CSĐT Công an huyện Thƣờng Xuân đã ra lệnh giữ ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp đối với Quách Văn V, sinh năm 1994 và Bùi Mong Ƣ, sinh năm 1995 cùng trú tại thôn NT, xã Ng, huyện NL, về hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Honda Wave RSX BKS 36M1-115.35 và 01 điện thoại SamSung Galaxy A32 nêu trên.
Quá trình điều tra xác định:
Khoảng 09 giờ ngày 30/9/2021, Bùi Mong Ƣ đang ở nhà tại thôn NT, xã Ng, huyện NL thì có Quách Văn V đến nhà và rủ Ƣ sang thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân để chơi. Do không có xe mô tô nên Bùi Mong Ƣ đã sang gia đình chị Lƣờng Thị Nga, sinh năm 1984, trú cùng thôn để mƣợn 01 xe mô tô nhãn hiệu JAPATO, màu đỏ, BKS 36M7-4850 thì chị Nga đồng ý. Sau đó Ƣ điều khiển xe mô tô chở theo V đi đến thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân. Đến 16 giờ cùng ngày, V và Ƣ điều khiển xe mô tô đi theo quốc lộ 47 qua huyện Thƣờng Xuân để về nhà, trên đƣờng đi V nói với Ƣ: “nếu thấy gia đình nào để tài sản sơ hở không có ngƣời trông coi sẽ trộm cắp về bán lấy tiền tiêu sài cá nhân”, Ƣ đồng ý. Khi đến cánh đồng địa phận thôn Xuân Lập, xã Ngọc Phụng, huyện Thƣờng Xuân, Ƣ và V đi vào đến cuối ngõ số 4, thì V và Ƣ quán sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ - đen, BKS 36M1 - 115.35 đang dựng ở lề đƣờng, chìa khóa vẫn đang cắm trong ổ khóa. Lúc này, V nói với Ƣ: “dƣới kia có hai ngƣời đang bốc rơm, cái xe dựng sau bãi mía nên họ không thấy đƣợc xe, tau với mi quay lại lấy cái xe đi, đi đến gần chỗ để xe mi đi chậm lại để tau nhảy xuống lấy xe”, Ƣ đồng ý. Lúc này Ƣ điều khiển xe quay lại, gần đến vị trí dựng xe, còn V nhảy xuống trộm cắp và nổ máy xe mô tô điều khiển xe đi về hƣớng xã Lƣơng Sơn, huyện Thƣờng Xuân; Còn Ƣ điều khiển xe mô tô BKS 36M7-4850 đi phía trƣớc V. Khi đi đến địa phận xã Ng, huyện NL, V nghe thấy có tiếng chuông điện thoại trong cốp xe nên đã mở cốp lấy điện thoại ra đƣa cho Ƣ để Ƣ tháo sim vứt đi và tắt nguồn điện thoại rồi đƣa lại cho V. Sau đó Vinh rủ Ƣ đi đến nhà anh Lê Khắc Hiệp, sinh năm 1987, trú tại thôn Nguyệt Trung, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc để vay tiền. Tại nhà anh Hiệp, Ƣ nói cần tiền làm hồ sơ đi làm nên vay hỏi anh Hiệp 500.000đ và để lại chiếc xe mô tô Honda Wave RSX BKS 36M1 - 115.35, Ƣ nói với anh Hiệp chiếc xe mô tô trên là của bố Ƣ, nên anh Hiệp đồng ý cho Ƣ và V vay 500.000đ và để lại chiếc xe mô tô trên để làm tin.
Ngày 01/10/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thƣờng Xuân, đã ra Yêu cầu định giá tài sàn số: 26/CSĐT trƣng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thƣờng Xuân định giá 01 chiếc xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ - Đen, BKS 36M1 – 11.535 và 01 điện thoại SamSung Galaxy A32.
Ngày 02/10/2021 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thƣờng Xuân ban hành kết luận số 26/KL-HĐĐGTS kết luận: 01 chiếc xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ - Đen, BKS 36M1 – 11.535 trị giá 12.000.000đ; 01 điện thoại Samsung Galaxy A32 trị giá 3.300.000đ.
Về các tình tiết khác liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi của anh Lê Khắc Hiệp: nhận 01 chiếc xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ - đen, BKS 36M1 – 11.535 cho Bùi Mong Ƣ và Quách Văn V vay 500.000đ. Quá trình điều tra xác định, anh Hiệp không biết việc xe máy nêu trên là do Ƣ và V trộm cắp nên không xử lý. Anh Hiệp cũng không yêu cầu Bùi Mong Ƣ và Quách Văn V phải trả lại số tiền 500.000đ
Đối với việc chị Lƣờng Thị Nga cho Bùi Mong Ƣ và Quách Văn V mƣợn 01 xe máy nhãn hiệu JAPATO, màu đỏ, BKS 36M7-4850. Sau đó, Ƣ và V sử dụng chiếc xe máy này để thực hiện hành vi trộm cắp, chị Nga không biết nên không xử lý.
Về thu giữ và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thƣờng Xuân đã thu giữ và xử lý vật chứng sau:
Đối với một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ - Đen, BKS 36M1 - 11535, xe đã qua sử dụng thu giữ của anh Lê Khắc Hiệp; Một điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy A32, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Quách Văn V. Quá trình điều tra xác định ông Trịnh Phú Hƣng là chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trịnh Phú Hƣng.
Đối với một xe mô tô nhãn hiệu JAPATO, sổ khung 6HY6B003474, số máy 52FMHB003474; BKS: 36M7-4850; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Lê Thị Hiền thu giữ của chị Lƣờng Thị Nga. Quá trình điều tra xác định, chị Nga không biết việc Ƣ và V sử dụng vào việc trộm cắp cắp nên Cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản này cho chị Nga.
Đối với 01 chiếc cờ lê 10, bằng kim loại, màu đen, trắng, dài 13 cm thu giữ của anh Lê Khắc Hiệp. Quá trình điều tra xác định cờ lê này là của anh Lê Khắc Hiệp. Khi Quách Văn V sử dụng cờ lê để tháo biển số của chiếc xe mô tô nêu trên, anh Hiệp không biết chiếc xe nêu trên là do V và Ƣ trộm cắp đƣợc mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Hiệp.
Đối với 01 chiếc quần bò, màu xanh xám, dài 95cm; 01 áo khoác dài tay (dạng áo gió), màu nâu xám; 01 mũ lƣỡi trai bằng vải, màu xanh, đen, mũ không có tem, nhãn mác; 01 áo khoác chống nắng bằng vải, màu tím than, loại áo có mũ liền áo thu giữ của các bị cáo. Vì vậy, tiếp tục chuyển theo hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định.
Về bồi thƣờng dân sự: Ngƣời bị hại là ông Trịnh Phú Hƣng đã nhận lại xe và không có yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSTX ngày 09/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thƣờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Quách Văn V, Bùi Mong Ƣ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thƣờng Xuân giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Quách Văn V, Bùi Mong Ƣ về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Xử phạt bị cáo Quách Văn V mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/10/2021; Bị cáo Bùi Mong Ƣ mức án từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/10/2021; đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị HĐXX xử lý về vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ bản Cáo trạng đã truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, trong phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo trƣớc khi HĐXX vào phòng nghị án:
Các bị cáo rất hối hận về hành vi của bản thân, đề nghị HĐXX xem xét, cân nhắc cho bị cáo đƣợc hƣởng chính sách khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của bản thân, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội, sớm trở về đoàn tụ gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhân định nhƣ sau:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, ngƣời bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Quách Văn V, Bùi Mong Ƣ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập đƣợc trong hồ sơ vụ án; Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên, lời khai của ngƣời bị hại, kết luận của Hội đồng định giá và kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, thể hiện:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 30/9/2021, tại cuối ngõ số 4, cánh đồng thuộc thôn Xuân Lập, xã Ngọc Phung, huyện Thƣờng Xuân, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của của ngƣời dân. Quách Văn V và Bùi Mong Ƣ đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 36M1 - 115.35 trị giá 12.000.000đ và 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy A32 trị giá 3.300.000đ của Ông Trịnh Phú Hƣng, sinh năm 1971, trú tại thôn Xuân Lập, xã Ngọc Phụng, huyện Thƣờng Xuân.
Xét tính chất, mức độ của vụ án và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:
Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Quách Văn V và Bùi Mong Ƣ là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi của các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của ngƣời dân, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, xâm phạm đến quyền sở hữu của ngƣời khác đƣợc pháp luật Hình sự bảo vệ; gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phƣơng. Do đó, hành vi của các bị cáo cần phải đƣợc xử lý đúng mức để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công hoặc cấu kết chặt chẽ từ trƣớc. Các bị cáo Quách Văn V, Bùi Mong Ƣ đều là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình đã gây ra. Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án này thì thấy bị cáo V là ngƣời chủ động rủ rê bị cáo Ƣ hiện hành vi phạm tội và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, lẽ ra bị cáo Ƣ phải tích cực ngăn cản bị cáo V từ bỏ ý định phạm tội, nhƣng bị cáo không những không ngăn cản mà lại tiếp nhận ý chí của đồng phạm và giúp sức tích cực cho bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội. Từ những căn cứ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này vai trò của bị cáo V trong vụ án này là cao hơn so với bị cáo Ƣ, đây là căn cứ để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; Ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Vì vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.
Xét điều kiện kinh tế của các bị cáo thì thấy bản thân các bị cáo là các con nghiện ma túy, không có công việc ổn định, thu nhập không có; điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành án. Do vậy không cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS.
Về đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, án phí và xử lý vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đã có ý kiến đề nghị. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đƣợc HĐXX chấp nhận.
Về hình phạt: Từ những căn cứ phân tích nêu trên cần áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS 2015 đối với các bị cáo. Xử phạt các bị cáo một mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ, hành vi của bị cáo gây ra, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về xử lý vật chứng:
- Thu giữ của Bùi Mong Ƣ:01 mũ lƣỡi trai bằng vải màu xanh – đen, không có tem nhãn mác, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác chống nắng bằng vải màu tím than, loại áo có mũa liền thân áo, nhãn mác “MADE IN VIET NAM” áo đã qua sử dụng; 01 chiếc quần bằng vải, màu xanh – đen, không có nhãn mác, quần đã qua sử dụng.
-Thu giữ của Quách Văn V: 01 chiếc quần bò màu xanh xám, nhãn hiệu “De Yui”, dài 95cm, quần đã cũ, đã qua sử dụng; 01 áo khoác, dạng áo gió, màu nâu xám, áo dài tay nhãn hiệu “TOP MAN”, áo cũ đã qua sử dụng; 01 mũ lƣỡi trai, màu đen, phần trƣớc mũ màu cam, có in dòng chữ “ Ơn giời cậu đây rồi”, mũ đã qua sử dụng.
Đây là những đồ vật, tài sản của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS tuyên trả lại cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại ông Trịnh Phú Hƣng đã đƣợc nhận lại tài sản, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì thêm nên HĐXX miễn xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Quách Văn V, Bùi Mong Ƣ.
1.Tuyên bố: Các bị cáo Quách Văn V, Bùi Mong Ƣ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2.Xử phạt:
Quách Văn V 15 (Mƣời lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/10/2021.
Bùi Mong Ƣ 12(Mƣời hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/10/2021.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Trả lại cho bị cáo Bùi Mong Ƣ: 01 mũ lƣỡi trai bằng vải màu xanh – đen, không có tem nhãn mác, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác chống nắng bằng vải màu tím than, loại áo có mũa liền thân áo, nhãn mác “MADE IN VIET NAM” áo đã qua sử dụng; 01 chiếc quần bằng vải, màu xanh – đen, không có nhãn mác, quần đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Quách Văn V: 01 chiếc quần bò màu xanh xám, nhãn hiệu “De Yui”, dài 95cm, quần đã cũ, đã qua sử dụng; 01 áo khoác, dạng áo gió, màu nâu xám, áo dài tay nhãn hiệu “TOP MAN”, áo cũ đã qua sử dụng; 01 mũ lƣỡi trai, màu đen, phần trƣớc mũ màu cam, có in dòng chữ “ Ơn giời cậu đây rồi”, mũ đã qua sử dụng.
Toàn bộ số vật chứng này đƣợc thể hiện nhƣ biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thƣờng Xuân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thƣờng Xuân lập ngày 13/12/2021.
*Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc các bị cáo Quách Văn V, Bùi Mong Ƣ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm có mặt các bị cáo; ngƣời bị hại. Những ngƣời này đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Thanh Hoá; -VKSND huyện Thƣờng Xuân; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện Thƣờng Xuân; - Chi cục THADS huyện Thƣờng Xuân; - Nhà tạm giữ CA huyện Thƣờng Xuân; - Sở Tƣ pháp tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Ngƣời bị hại; - Lƣu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Sỹ H |