- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Kh, phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 và Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án đối với Lò Văn Kh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2021/HSST Ngày 21/09/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Công Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tình; Ông: Đinh Văn Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng – Thư ký Tòa án huyện Như Xuân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Kế Mạnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 và 21 tháng 09 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 08 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 09 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Kh, sinh ngày 10/10/1973.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi ĐKNKTT: Thôn Tân Hiệp, xã Thanh Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chổ ở hiện nay: Thôn Tân Hiệp, xã Thanh Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; T n iáo: Kh ng. Con ông: Lò Văn Ng và bà: Vi Thị Th. Vợ: Hà Thị H, sinh năm: 1973, nghề nghiệp: Làm ruộng. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/8/2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Đức Hiếu – Trợ giúp viên pháp lý – Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 4, Trung Tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Người bị hại:
Anh Lê Văn Th1 – Sinh năm 1976. (Có mặt)
Trú tại: thôn Tân Hiệp, xã Thanh Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
1. Bà Lò Thị D – Sinh năm: 1952 (Có mặt).
Địa chỉ: thôn Tân Hòa, xã Thanh Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Kim Thị L – Sinh năm: 1976(Có mặt).
Địa chỉ: thôn Tân Hòa, xã Thanh Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Lê Văn Th1, sinh năm 1976 và vợ là chị Kim Thị L, sinh năm 1976 cùng ở thôn Tân Hiệp, xã Thanh Hòa, huyện Như Xuân, do trước đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn với nhau, nên chị L bỏ về nhà mẹ đẻ là bà Lò Thị D, sinh năm 1952 (cùng th n) được khoảng 01 tháng. Ngày 29/6/2021, anh Th1 xuống nhà bà D ba lần để bảo vợ về nhà. Lần đầu tiên là khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, anh Th1 đến nhà bà D nói chị L về nhưng chị L không về rồi hai bên cãi nhau, sau đó anh Th1 bỏ về. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong anh Th1 lại tiếp tục đi đến nhà bà D bảo vợ đi về, lần này chị L vẫn không về, hai bên lời qua tiếng lại, anh Th1 chửi bới vợ, quá trình chửi với vợ thì xảy ra mâu thuẫn với bà D. Sau đó, anh Th1 dùng tay tát bà D một cái vào mặt. Sau khi bị đánh, bà D đi sang nhà cháu họ là Lò Văn Kh, sinh năm 1973 ở gần đó. Lúc này, Kh đang ở nhà nên bà D nói với Kh về việc bị con rể là Lê Văn Th1 đánh. Nghe nói vậy, Kh đi bộ sang nhà bà D để nói chuyện với Th1, tuy nhiên Th1 đã đi về trước đó nên kh ng gặp. Sau đó, Kh ngồi ở nhà bà D chơi một lúc, rồi đi đến nhà anh Lương Văn Long ở cùng th n xem bóng đá.
Khi xem bóng đá ở nhà anh Long được khoảng hơn 40 phút, Lò Văn Kh nhìn thấy Th1 đi bộ ngang qua, trên tay Th1 cầm theo dao, súng (dạng súng tự chế bắn tên) mục đích là để đi bắt ếch, nhái đi về hướng nhà bà D. Thấy vậy, Lò Văn Kh không xem đá bóng nữa mà đi bộ theo sau Th1. Khi đi về đến cổng nhà mình, Kh đi bộ vào trong bếp lấy một gậy gỗ keo, khô, tày, cứng (chiều dài khoảng 01 mét, đường kính khoảng 04 cm) cầm theo đến nhà bà D. Khi đến nhà bà D, Kh nhìn thấy Th1 ngồi ở đầu giường đối diện cửa chính ra vào. Ngay lập tức, Lò Văn Kh cầm gậy gỗ đi về phía Th1, dùng tay x đẩy Th1 ngã ngửa ra giường, dùng gậy gỗ đánh liên tiếp vào vùng sườn, tay, chân Th1 làm gậy gỗ gãy ra, nhưng chưa dừng lại mà Kh còn đánh thêm nhiều phát nữa vào người Th1. Bị đánh, Th1 kh ng đánh lại mà chỉ co người để đỡ tránh đòn. Sau đó người dân ở gần đấy đến can ngăn thì Kh kh ng đánh nữa, rồi vứt đoạn gậy gỗ keo tại đó, một lúc sau Kh bỏ đi về. Hậu quả khiến Lê Văn Th1 bị thương tích, khi đi thăm khám chụp chiếu tại Phòng khám tư nhân xác định bị gãy xương sườn và gãy xương ngón 5 bàn chân phải.
Tại Biên bản xem xét dấu vết thân thể do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân ngày 03/07/2021 đối với Lê Văn Th1 đã phát hiện các dấu vết thương tích liên quan như sau:
+ Vùng mạn sườn bên trái có vết thâm sưng bầm tím không rõ hình, kích thước 13x10cm. Bề mặt vết thâm sưng có vết xây xước da kh ng rõ hình, kích thước 05 x 04cm.
+ Mặt ngoài cẳng tay trái có các vết thâm sưng bầm tím kh ng rõ hình, kích thước 24x7 cm.
+ Mặt trước ngoài của đùi bên trái có vết thâm sưng bầm tím không rõ hình, kích thước 20x8 cm.
+ Mu bàn chân phải thâm sưng bầm tím kh ng rõ hình, kích thước 9x7 cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 491/2021/TTPY ngày 16/7/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Văn Th1 được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Điều 4 – Th ng tư 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế) là 11%. (Bút lục số: 94 – 95).
Về vật chứng:
Đối với vật chứng vụ án là 01 gậy gỗ dài 65 cm, đường kính 04 cm. hiện đang tạm giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện như Xuân theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 Tháng 09 Năm 2021 giữa công an huyện Như Xuân với chi cục Thi Hành Án dân sự huyện Như Xuân.
Đối với đoạn gỗ bị gãy từ gậy gỗ trên, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân kh ng thu giữ được.
Về dân sự: Anh Lê Văn Th1 có đơn yêu cầu Lò Văn Kh bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) là tiền tổn hại sức khỏe, chi phí chữa trị vết thương, đi lại. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường đầy đủ số tiền 5.000.000 đồng cho anh Lê Văn Th1.
Tại bản cáo trạng số: 43/CT-VKS NX, ngày 26/08/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Lò Văn Kh về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Lò Văn Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu ở trên.
Xét tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Tại phiên Tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Kh phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: Xử phạt bị cáo Lò Văn Kh từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thống nhất thỏa thuận xong về dân sự trước khi mở phiên tòa nên đề nghị không xem xét về phần dân sự. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 gậy gỗ dài 65 cm, đường kính 04 cm. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn Kh là ng Hoàng Đức Hiếu trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân về tội danh và điều luật đã truy tố đối với bị cáo. Đồng thời phân tích, đánh giá nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự cho bị cáo Lò Văn Kh được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo thống nhất không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát và thống nhất với nội dung bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo và không bổ sung gì thêm.
Bị hại là anh Lê Văn Th1 có ý kiến: Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền là 5.000.000đ cho người bị hại nên bị hại kh ng có yêu cầu gì thêm và người bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác kh ng có tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được có cơ hội sữa chữa lỗi lầm.
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, Người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng vụ án và tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. HĐXX đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 23 giờ ngày 29/6/2021, tại nhà bà Lò Thị D ở thôn Tân Hiệp, xã Thanh Hòa, huyện Như Xuân do bực tức việc Lê Văn Th1 đã tát c họ của mình nên Lò Văn Kh đã dùng gậy gỗ, là vật chắc, tày, cứng, là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng sườn, tay và chân của anh Lê Văn Th1 ở cùng thôn gây thương tích cho Lê Văn Th1 với tỷ lệ thương tích 11%.
Hành vi của Lò Văn Kh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 43/CT-VKSNX ngày 26/08/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Lò Văn Kh về tội: “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại. Chỉ vì nóng giận thiếu suy nghĩ, bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm là gậy gỗ gây thương tích ở vùng mạng sườn, tay và chân cho bị hại, làm cho anh Th1 bị thương. Mặc dù nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi của người bị hại, khi người bị hại đã dùng tay tát vào mặt của Bà Lò Thị D là c ruột của bị cáo và cũng là mẹ vợ của bị hại. Lẽ ra, bị cáo phải tìm cách giải quyết mâu thuẫn, hòa giải giữa hai bên nhưng bị cáo đã nóng giận dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó hành vi của bị cáo cần phải xét xử nghiêm, tuyên mức án tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi của bị cáo đã gây ra. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã cùng gia đình tích cực bồi thường đầy đủ số tiền 5.000.000 đồng theo yêu cầu của người bị hại. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Để đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhưng đồng thời cũng để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà vẫn đảm bảo để bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
. Đối với hành vi của anh Lê Văn Th1 trước đó dùng tay tát vào mặt bà Lò Thị D. Bà D không có yêu cầu đề nghị gì và có đơn từ chối đi giám định thương tích, do đó kh ng có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Lê Văn Th1 là phù hợp quy định của pháp luật.
. Đối với hành vi của bà Lò Thị D sau khi bị con rể đánh đã sang nói với cháu họ là Lò Văn Kh, bà D chỉ nhờ Kh sang xem nói chuyện, chứ không bảo Kh sang đánh con rể là Lê Văn Th1 do đó kh ng có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Lò Thị D là phù hợp quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn Th1 có đơn yêu cầu Lò Văn Kh phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) là tiền tổn hại sức khỏe, chi phí chữa trị vết thương, đi lại. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền theo yêu cầu của anh Th1. Tại phiên tòa, bị hại kh ng yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Xét thấy, sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là tự nguyện, đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
. Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điền tra thu giữ: 01 gậy gỗ dài 65 cm, đường kính 04 cm. đây là c ng cụ bị cáo Kh đã sử dụng vào việc phạm tội, hiện đang tạm giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện như Xuân theo biên bản giao nhận ngày 06 Tháng 09 Năm 2021 giữa c ng an huyện Như Xuân với chi cục Thi Hành Án dân sự huyện Như Xuân. Xét thấy vật chứng kh ng có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
. Những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội của Kiểm sát viên; bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều phù hợp. Về mức hình phạt và phần bồi thường dân sự mà Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo đề nghị là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 và Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án đối với Lò Văn Kh.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Kh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Kh 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/09/2021).
Giao bị cáo Lò Văn Kh cho UBND xã Thanh Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. ia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng:
- Tich thu tiêu hủy 01 gậy gỗ dài 65 cm, đường kính 04 cm. đây là c ng cụ bị cáo Kh đã sử dụng vào việc phạm tội, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện Như Xuân theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/09/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân và công an huyện như Xuân.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/09/2021.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tình
Đinh Văn Thành
Ngô Công Tuấn
| Nơi nhận: - VKSND huyện Như Xuân; - Bị cáo; Bị hại; - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện Như Xuân; - Công an huyện Như Xuân; - Phòng 7VKSND tỉnh Thanh Hóa. - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Văn Tình Đinh Văn Thành | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Công Tuấn TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Công Tuấn |