vanban.org

Bản án 56/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 24/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H, Võ Văn Tr phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/12/2020. Xử phạt bị cáo Võ Văn Tr 04 (Bốn) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H, Võ Văn Tr phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2021/HS-ST
Ngày: 24/5/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH,

TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Ánh Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Quang Truyền

2. Ông Đinh Khắc Quỳnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Thảo Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Sĩ – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 62/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn H (Tên gọi khác: Tý); sinh ngày 07/3/1995, Tại: tỉnh Tây Ninh; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: nhà số 27, tổ 2, ấp Xóm Đ, xã Thanh Ph, huyện Gò D, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: không có. Trình độ học vấn: 7/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Lê Văn Q, sinh năm 1973; Mẹ: Lê Thị Th, sinh năm 1976; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 điều 194, điểm b khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 17/8/2017. Đã xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/12/2020, tạm giam từ ngày 11/12/2020 đến nay có mặt.

2.Võ Văn Tr, sinh ngày 13/10/1988, tại: tỉnh Tây Ninh. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: tổ 5, ấp Xóm Đ, xã Thanh Ph, huyện Gò D, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: không có. Trình độ học vấn: 9/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Võ Văn Nô, sinh năm 1946, (đã chết) và bà Nguyễn Thị Liệu, sinh năm 1952; Vợ, con: chưa có. Tiền án: Không có. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118, ngày 25/4/2020, Công an thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm a khoản 1 điều 15; khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng mức phạt chung là 2.250.000 đồng, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/12/2020, tạm giam từ ngày 26/12/2020 đến nay có mặt.

- Các bị hại:

1, Chị Võ Thị Kim Ph, sinh năm 1972; trú tại: khu phố Hiệp Đ, phường Hiệp T, thị xã Hòa Thành, Tây Ninh (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2, Chị Khưu Thị Ngọc M, sinh năm 1965; trụ tại: số 31, hẻm 13, đường Châu Văn L, khu phố Hiệp A, phường Hiệp T, thị xã Hòa Thành, Tây Ninh (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Văn H và bị cáo Võ Văn Tr không có nghề nghiệp ổn định, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên cùng nhau bàn bạc dùng xe máy chạy xung quanh các tuyến đường vắng tìm những người có tài sản để giật rồi tăng ga tẩu thoát. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/12/2020, bị cáo Tr điều khiển xe mô tô biển số 62R2-3114, nhãn hiệu Honda, loại Future Neo (xe không đăng ký biển số). Bị cáo Tr mượn xe của người bạn tên Th, bạn cùng sử dụng ma túy chung nhưng không rõ nhân thân, địa chỉ, chở bị cáo H ngồi sau chạy đến khu vực phường Hiệp Tân, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Lúc này, bị cáo H nhìn thấy bà Võ Thị Kim Ph, sinh năm 1972, ngụ khu phố Hiệp Đ, phường Hiệp T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đang điều khiển xe mô tô biển số 70G1-084.91, loại AirBlade, màu đỏ-đen chạy cùng chiều phía trước trên cổ có đeo 01 dây chuyền màu vàng, có mặt đính hột bằng đá thường, nên kêu bị cáo Tr chạy theo bà Ph để bị cáo H giật dây chuyền, thì bị cáo đồng ý. Khi chạy đến hẻm số 32, đường Lạc Long Quân, thuộc khu phố Hiệp Đ, phường Hiệp T, thị xã Hòa Thành, bị cáo Tr điều khiển xe vượt lên, áp sát bên trái xe mô tô của bà Ph, bị cáo H ngồi sau dùng tay phải giật đứt dây chuyền của bà Ph, làm mặt dây rơi xuống đất. Lúc này, bà Ph chụp tay của bị cáo H kéo lại làm hai xe va vào nhau và cả ba bị ngã xuống đường. bà Ph truy hô nên người dân xung quanh vây bắt được bị cáo H, còn bị cáo Tr chạy bộ tẩu thoát và leo qua hàng rào vào khuôn viên nhà của bà Khưu Thị Ngọc M, sinh năm 1965, ngụ khu phố Hiệp A, phường Hiệp T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh để ẩn nấp. Tại đây, bị cáo Tr thấy xe mô tô biển số 70G1-589.18, nhãn hiệu Honda, loại Vision của bà M để phía sau nhà, trên xe còn gắn chìa khóa nên đã lén lút lấy trộm xe của bà M đẩy ra đường nổ máy chạy đến khu vực Chợ mới thị xã Trảng Bàng, gọi điện thoại cho em ruột là chị Võ Thị Cẩm T, sinh năm 1992, ngụ ấp Xóm Đ, xã Thanh Ph, huyện Gò D đến lấy xe giao nộp cho Công an, còn bị cáo Trường bỏ trốn. Cùng ngày, chị Tươi đem xe mô tô trên đến giao nộp cho Công an thị xã Hòa Thành. Đến ngày 21/12/2020, bị cáo Trường đến công an xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu đầu thú.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, về hành vi phạm tội của mình.

*Tại kết luận định giá tài sản số 83, ngày 07/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành kết luận: 01 dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18 Công ty, trọng lượng 3,98 chỉ trị giá 16.119.000 đồng; 01 mặt dây chuyền có đính hột bằng đá thường màu trắng, loại vàng 18 Công ty, trọng lượng 1,3 chỉ trị giá 5.265.000 đồng. Tổng cộng: 21.384.000 đồng.

*Tại Kết luận định giá tài sản số 82, ngày 07/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành kết luận: 01 xe mô tô Vision biển số 70G1-589.18, nhãn hiệu Honda trị giá 23.000.000 đồng.

* Qua xác minh, các bị cáo không có tài sản nên không kê biên.

* Về trách nhiệm dân sự: các bị hại Võ Thị Kim Ph, Khưu Thị Ngọc M đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKSHT ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Lê Văn H, Võ Văn Tr về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Võ Văn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lê Văn H, Võ Văn Tr về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Võ Văn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, Điều 51; xử phạt bị cáo Lê Văn H, Võ Văn Tr mức án từ 04 đến 05 năm tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn Tr mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt xử phạt bị cáo Tr từ 05 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận bị hại đã nhận tài sản xong nên bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo H, bị cáo Tr tại phiên tòa: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên thu thập: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đều được tiến hành đúng theo trình tự, thủ tục luật định.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do dó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật vụ án, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/12/2020, bị cáo Tr điều khiển xe mô tô biển số 62R2-3114, nhãn hiệu Honda, loại Future Neo (xe không đăng ký biển số) mượn của người bạn tên Th không rõ nhân thân, địa chỉ chở bị cáo H ngồi sau chạy đến khu vực phường Hiệp T, thị xã Hòa Thành để tìm tài sản của người đi đường cướp giật, các bị cáo nhìn thấy bà Ph đang điều khiển xe mô tô biển số 70G1-084.91, loại AirBlade, màu đỏ-đen chạy cùng chiều phía trước trên cổ có đeo 01 dây chuyền màu vàng, có mặt đính hột bằng đá, bị cáo Tr chạy theo bà Ph để bị cáo H giật dây chuyền, khi chạy đến hẻm số 32, đường Lạc Long Quân, thuộc khu phố Hiệp Đ, phường Hiệp T, bị cáo Tr điều khiển xe vượt lên, áp sát bên trái xe mô tô của bà Ph, bị cáo H ngồi sau dùng tay phải giật đứt dây chuyền của bà Ph, làm mặt dây rơi xuống đất, tay cầm dây chuyền vứt qua bên đường. Do bà Ph chụp tay của bị cáo H kéo lại, làm hai xe va vào nhau và cả ba bị ngã xuống đường, bà Ph truy hô người dân xung quanh vây bắt được bị cáo H.

Bị cáo Tr bỏ chạy và leo qua hàng rào, vào khuôn viên nhà của bà M tại khu phố Hiệp A, phường Hiệp T, để trốn. Bị cáo Tr thấy xe mô tô biển số 70G1-589.18, nhãn hiệu Honda, loại Vision của bà M để phía sau nhà, trên xe còn gắn chìa khóa nên đã lén lút lấy trộm xe của bà và chạy đến khu vực Chợ mới thị xã Trảng Bàng, gọi điện thoại cho em ruột là chị T đến lấy xe giao nộp cho Công an, còn bị cáo Tr bỏ trốn. Cùng ngày, chị T đem xe mô tô trên đến giao nộp cho Công an thị xã Hòa Thành. Đến ngày 21/12/2020, bị cáo Tr đến công an xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu đầu thú.

Trong vụ án các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Do cần tiền sử dụng cá nhân nên bị cáo Tr đã rủ bị cáo H đi cướp giật tài sản, các bị cáo không có sự sắp xếp phân công mà cùng thống nhất đi trên đường tìm người đi đường không cẩn thận, có sơ hở có tài sản để các bị cáo cướp giật, nên hành vi phạm tội của các bị cáo không cấu thành hành vi tổ chức, các bị cáo phải cùng có trách nhiệm ngang nhau đối với hành vi cướp giật tài sản. Đối với bị cáo Tr trong lúc chạy thoát đã vào sân nhà bà M lấy trộm xe của bà chạy về Chợ thị xã Trảng Bàng và giao cho em gái tên T giao nộp xe cho cơ quan công an và đến cơ quan công an đầu thú sau 17 ngày, việc bị cáo lấy xe để chạy trốn không liên quan bị cáo Hoàng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trộm cắp tài sản.

Hành vi của các bị cáo Lê Văn H và Võ Văn Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Võ Văn Tr đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng Viện kiểm sát thị xã Hòa Thành truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, gây mất trật tự công cộng tại địa phương. Các Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Về tình tiết tăng nặng: Không có

Như vậy, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản nên xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị hại chị Võ Thị Kim Ph và chị

Khưu Thị Ngọc M đã nhận tài sản xong nên không có yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số 62R2-3114, số khung RLHJC35059Y609167, số máy: JC35E-7018371, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đen, số loại Future Neo (đứng tên Nguyễn Anh Tuấn, anh đã bán không nhớ thời gian và người mua), các bị cáo dùng xe làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H, Võ Văn Tr phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/12/2020.

Xử phạt bị cáo Võ Văn Tr 04 (Bốn) năm tù.

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Văn Tr 01 (Một) năm tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo Võ Văn Tr phải chấp hành là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/12/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Ghi nhận các bị hại chị Võ Thị Kim Ph và chị Khưu Thị Ngọc M đã nhận tài sản xong nên không có yêu cầu gì thêm.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 62R2-3114, số khung RLHJC35059Y609167, số máy: JC35E-7018371, nhãn hiệu HONDA, màu sơn: đen, số loại Future Neo, đã qua sử dụng.

Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Hòa Thành đang quản lý.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lê Văn H, Võ Văn Tr, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

T/M HỘI ĐỒNGXÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ