- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2021/HS-ST Ngày: 19/03/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Bình Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Phương Trang – Hội viên Hội Phụ nữ quận Bình Tân, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Văn Dũng – Nguyên Giảng viên trường Đại học Giao
thông Vận Tải Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Ninh – Kiểm sát viên.
Ngày 19/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2021/TLST-HS ngày 04/02/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Chí H; Sinh ngày: 17/10/2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi
đăng ký hộ khẩu thường trú: 00 ấp A, xã B, huyện C, Thành phố A; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Nguyễn Thị Th; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 06/9/2020 (Có mặt).
- Những người tham gia tố tụng:
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm: 1990
Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện E, tỉnh F
Chỗ ở: 0000 Thân Nhân Tr, phường I, quận U, Thành phố X (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hãi: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm:
1979
Địa chỉ: 00 ấp A, xã B, huyện C, Thành phố A (Có mặt)
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Hãi: Ông Lâm Quốc V, sinh năm:
1965
Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Việt T – Đoàn Luật sư Thành phố A
Địa chỉ: 0000 Phan Văn Tr, Phường Z, quận Y, Thành phố A (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 08 giờ 21 phút ngày 06/9/2020, Nguyễn Chí H gọi điện thoại rủ đối
tượng Nguyễn Xuân Vũ đi cướp giật tài sản bán lấy tiền sử dụng cá nhân, Vũ đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Vũ điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu đen, không rõ biển kiểm soát đến xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh đón Hãi. Sau đó, Vũ chở H đi qua nhiều tuyến đường thuộc phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân tìm cơ hội chiếm đoạt tài sản. Khi đến trước địa chỉ lô D11/II - D18/II đường số 5, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũ phát hiện chị Nguyễn Thị Hồng Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Visison màu đen xám, biển kiểm soát 62L1-769.05 đang dừng xe bên lề đường để sử dụng điện thoại di dộng. Vũ chỉ cho H thấy rồi quay xe lại chạy áp sát bên trái chị Đ để H ngồi sau dùng tay giật điện thoại hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng đồng của chị Đ, sau đó Vũ tăng ga chở H tẩu thoát. Lúc này, Tổ tuần tra đặc nhiệm Công an quận Bình Tân phát hiện, phối hợp với người dân vây bắt được H cùng vật chứng giao cho Công an phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Còn Vũ điều khiển xe mô tô tẩu thoát.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân đã trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị Hồng Đ.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen, imei:
35833008010/146, có số thuê bao xxxxxxxxxx của Nguyễn Chí H sử dụng để liên lạc với Vũ đi cướp giật tài sản.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1228/KL-HĐĐGTS ngày 20/10/2020
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận Bình Tân kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, đã qua sử dụng có trị giá là 1.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Hồng Đ đã nhận lại tài sản
và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Nguyễn Chí H đã
khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, H còn khai nhận đã cùng với Vũ thực hiện 03 vụ cướp giật điện thoại trên địa bàn huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên qua xác minh thì không có bị hại trình báo và cũng không thu giữ được vật chứng.
Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 01/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân
quận Bình Tân truy tố bị cáo Nguyễn Chí H về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Chí H đồng ý với kết luận định giá tài sản và khai
nhận hành vi như nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo.
Kiểm sát viên – Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát
biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 38; Điều 90; Điều 91 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H hình phạt tù giam có thời hạn từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Về hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường
thiệt hại: Đại diện Viện kiểm sát không đề nghị xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01
điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen đã qua sử dụng.
Luật sư Lâm Quốc V bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí H thống nhất về tội
danh và điều khoản truy tố đối với các bị cáo. Luật sư nêu lên một số căn cứ pháp lý để bào chữa cho bị cáo, cụ thể: bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn. Lúc phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn: cha mẹ của bị cáo đã ly hôn; bị cáo chưa thành niên nên nhận thức về pháp luật có phần còn hạn chế, lại thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đình và nay gia đình có nguyện vọng cho bị cáo có cơ hội đi học nghề. Do đó đề nghị áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm nhẹ và tuyên mức hình phạt thấp hơn Đại diên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đề nghị cho bị cáo nhằm tạo điều kiện được học một nghề thích hợp và được giáo dục trong một môi trường tốt hơn để sau này trở thành một công dân có ích cho xã hội.
Đối đáp lại lời bào chữa của Luật sư V, đại diện Viện kiểm sát nhân dân
quận Bình Tân trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo H thực hiện đã hoàn thành, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được nhà nước và pháp luật bảo vệ, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do mình gây ra. Việc luật sư yêu cầu áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đồng xét xử. Còn các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đã được Viện kiểm sát xem xét áp dụng cho bị cáo H.
Luật sư V vẫn bảo vệ quan điểm bào chữa như nội dung đã nêu trên và
không có tranh luận gì thêm với Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo H là bà Nguyễn Thị Th không có ý
kiến gì về hành vi của bị cáo và lời bào chữa của Luật sư V, bà Th thừa nhận bị cáo còn thiếu sự quan tâm quản lý, giáo dục của gia đình nên nay xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cam kết sẽ có biện pháp quản lý, giáo dục bị cáo tốt hơn.
Bị cáo H không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, đồng ý với nội dung bào chữa của Luật sư V và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án
đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, tội danh và các quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết
định của Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai
của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 06/9/2020, tại trước nhà số lô D11/II - D18/II đường số 5, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Chí H cùng đối tượng Nguyễn Xuân Vũ đã có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu đen, không rõ biển kiểm soát áp sát bên trái bị hại chị Nguyễn Thị Hồng Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Visison màu đen xám, biển kiểm soát 62L1-769.05 đang dừng xe bên lề đường để sử dụng điện thoại di dộng để bị cáo H ngồi sau dùng tay phải giật 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng đồng trị giá 1.500.000 đồng của chị Đ rồi tăng ga tẩu thoát. Chị Đ truy hô. Lúc này, Tổ tuần tra đặc nhiệm Công an quận Bình Tân phát hiện, phối hợp với người dân vây bắt được H cùng vật chứng giao cho Công an phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Còn Vũ điều khiển xe mô tô tẩu thoát.
Bị cáo phạm tội cướp giật tài sản với thủ đoạn dùng xe gắn máy áp sát bị
hại, nhanh chóng giật tài sản và nhanh chóng tẩu thoát là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan cảnh sát
điều tra – Công an quận Bình Tân, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố bị cáo về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định và ý kiến phát biểu tại phiên tòa của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Thời điểm phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm
hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, khá táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật, đã lợi dụng sự sơ hở của người khác chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai ngay trên đường phố giữa ban ngày là không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án tương xứng.
Bị cáo H khi phạm tội đã đủ 14 tuổi nhưng dưới 16 tuổi do đó cần áp
dụng chế định người chưa thành niên phạm tội để xử lý đối với bị cáo.
Lời bào chữa của luật sư V là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận
một phần là xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và hoàn trả cho bị hại, bị hại cũng không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác nên cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp: Bị cáo thực hiện hành vi
phạm tội nhằm thu lợi bất chính nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại và bị cáo có hoàn cảnh kinh tế không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 điện
thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Bị hại được triệu tập
hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu gì khác trong quá trình điều tra, truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với đối tượng tên Vũ hiện chưa rõ lai lịch, kiến nghị Cơ quan
cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào phát hiện, truy tìm được thì xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm
theo quy định Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều
38; Điều 90; Điều 91 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội "Cướp giật tài sản"
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2020.
2/ Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu
Samsung Galaxy S8 màu đen, đã qua sử dụng.
(Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ vật chứng trên
theo phiếu nhập kho số NK21/92TAM ngày 02/02/2021).
3/ Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
4/ Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo H có mặt có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -VKSND TP.HCM; - VKSND Q.Bình Tân; - CQĐTCA Q.Bình Tân; - CQ THAHSCA Q.Bình Tân; - NTG CA Q.Bình Tân; - Phòng PC64- CATPHCM; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS Q.Bình Tân; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án –Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Bình Thiện |