- Tranh chấp gì? án hình sự — "Xên Trân P phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!CẨM!GIÀNG TỈNH!HẢI!DƯƠNG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 56/2021/HS-ST Ngày: 27 - 9 - 2021 ! |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CẨM!GIÀNG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!
!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Đoàn Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đào Văn Hoàn và bà Trần Thị Khanh.
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Hoàng Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Tống Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2021/TLST-HS ngày 14- 9 -2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2021/QĐXXST-HS ngày 15 - 9 -2021, đối với bị cáo:
Xên!Trần!P, sinh năm 1992 tại thị trấn TG, huyện TD, tỉnh NA; nơi ở: B P, thị trấn TG, huyện TD, tỉnh NA; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 11/12; dân tộc Thái; giới tính nam; tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam; con ông Xên Văn P1 và con bà Trần Thị H; chưa có vợ con; tiền sự không;
Tiền án: Bản án số 139/2016/HSST ngày 28-11-2016, Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (giá trị 4.570.000 đ). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 17-9-2017, đã thi hành xong nghĩa vụ án phí; chưa thi hành nghĩa vụ bồi thường dân sự;
Nhân thân: Quyết định số 212/2018/QĐ-TA ngày 29-11-2018, Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 năm 10 tháng; đã chấp hành xong từ ngày 26-7-2021.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11-8-2021 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt).
Người chứng kiến:!!
-. Anh Bùi Năng Đ, sinh năm 1988; trú tại thôn AĐ, xã ĐS, huyện CG, tỉnh HD (vắng mặt);
-. Anh Trịnh Đình L, sinh năm 1987; trú tại thôn LX, xã CP, huyện CG, tỉnh HD (vắng mặt);
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Xên Trần P là đối tượng nghiện ma túy; do có nhu cầu sử dụng, khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09-8-2021, P đi bộ từ thôn Tân Cờ, xã Cẩm Phúc ra cầu vượt Quốc lộ 5, đi xe ôm của một người đàn ông tên Linh (không rõ tuổi, địa chỉ cụ thể) đến khu vực gần Trung tâm văn hóa thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, rồi bảo người lái xe dừng lại đứng đợi, còn P đi bộ ra khu vực bờ sông tìm mua ma túy để sử dụng. P đưa 100.000đ qua khe 1 bức tường, người bán đứng bên trong (không lộ mặt) nhận tiền và đưa ra 01 gói ma túy. P cho ma túy vào túi đựng thẻ công nhân và cất vào túi quần sau bên phải, rồi đi ra chỗ người lái xe ôm để về. Đến 15 giờ 40 phút cùng ngày, khi về đến cầu vượt thôn Lê Xá, xã Cẩm Phúc, huyện Cẩm Giàng, P trả tiền xe ôm rồi đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, có sự chứng kiến của anh Bùi Năng Đ và anh Trịnh Đình L, phát hiện thu giữ: 01 túi đựng thẻ công nhân bằng nhựa mềm trong suốt, bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước (1,2 x 1,5)cm, kiểm tra bên trong giấy bạc có chứa chất bột dạng cục màu trắng, P khai là Hêroin. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của P, không thu giữ đồ vật gì.
Kết luận giám định số 440/KLGĐ-PC09 ngày 12-8-2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: chất bột dạng cục mầu trắng thu của Xên Trần P gửi đến giám định có khối lượng: 0,277g là ma túy loại Hêroin; hoàn lại mẫu vật sau giám định: 0,190g Hêroin.
Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 13-9-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Xên Trần P về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Xên Trần P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Xên Trần P từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 11-8-2021; không áp dụng hình phạt bổ sung.
2
Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu cho tiêu hủy 0,190g Hêroin, 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 túi đựng thẻ công nhân bằng nhựa mềm trong suốt kích thước 6,0x9,5cm, cạnh trên túi có gắn ghim kẹp bằng nhựa cứng màu xanh.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại!phiên!tòa: bị cáo thừa nhận hành vi đang cất giữ 01 gói Heroin khối lượng: 0,277g trong túi quần phải và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng, không có ý kiến tranh luận, không khiếu nại về Kết luận giám định.
Lời nói sau cùng trong phiên tòa: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người chứng kiến tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản vụ việc; Kết luận giám định số 440/KLGĐ-PC09 ngày 12-8-2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 40 phút ngày 09-8-2021, tại cầu vượt Quốc lộ 5 thuộc địa phận thôn Lê Xá, xã Cẩm Phúc, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Xên Trần P có hành vi cất giấu trái phép 0,277 gam Hêroin trong túi quần phía sau bên phải với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng. Bị cáo P là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Heroin là chất Nhà nước cấm tàng trữ nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo vẫn cố ý cất giấu để sử dụng. Xét về hành vi, trọng lượng và chất ma túy mà bị cáo đang cất giữ đã đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
3
Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Xên Trần P về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Cẩm Giàng. Chất ma túy có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến con người cũng như sự an toàn của xã hội; là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]!Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016; đã từng bị xét xử về tội chiếm đoạt tài sản nên xác định là người có nhân thân xấu.
Bị cáo bị kết án, chưa được xóa tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội lỗi cố ý nên hành vi phạm tội lần này xác định là tái phạm; bị cáo phải chịu tình tiết tặng nặng TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự, cách ly bị cáo một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5] Xử lý vật chứng: 0,190g Hêroin mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 mảnh giấy bạc và 01 túi nhựa mềm trong suốt kích thước (6,0x9,5)cm đựng thẻ công nhân bị cáo dùng cất giữ ma túy, HĐXX tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra chưa xác định được họ tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ của người bán ma túy cho bị cáo và người lái xe ôm nên không có căn cứ xử lý.
[7] Về án phí: bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT!ĐỊNH
Căn!cứ!điểm c!khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên!bố bị cáo Xên Trần P phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Xên Trần P 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 11-8-2021.
Xử!lý!vật!chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,190g Hêroin gói trong mảnh giấy bạc còn nguyên niêm phong đựng trong 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 440/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương;
Tịch thu tiêu hủy 01 túi đựng thẻ công nhân bằng chất liệu nhựa mềm, trong suốt, có kích thước ( 0,6x9,5)cm, cạnh trên của túi có gắn một ghim kẹp bằng nhựa cứng màu xanh đựng trong 01 phong bì.
(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17-9-2021).
Án!phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Xên Trần P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền!kháng!cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo P có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi!nhận:!
T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- VKSND tỉnh Hải Dương;!
Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!
- VKSND huyện Cẩm Giàng;
- Cơ quan CSĐT Công an H Cẩm Giàng ;
- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương.
- Chi cục THADS H. Cẩm Giàng.
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Đoàn!Thị!Thúy!
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, lưu VP
5