- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Châu Thị Cẩm Tr.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2021/HNGĐ-ST Ngày: 08/12/2021 Về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lư Thành Danh.
2. Ông Lê Văn Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Nhu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng tiến hành xét xử sở thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 91/2020/TLST-HNGĐ ngày 23/3/2020 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Châu Thị Cẩm Tr (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khu vực T, phường P, quận C, thành phố C.
Chỗ ở hiện nay (địa chỉ liên hệ): nhà trọ T, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh B.
Bị đơn: Anh Huỳnh Phú Th (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu vực T, phường P, quận C, thành phố C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tr trình này và yêu cầu: Bà và ông Th quen biết nhau, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục và chung sống với nhau vào năm 2012, đến ngày 29/6/2015 ông bà tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Ông bà có 01 con chung tên Huỳnh Bảo Tr (Nữ), sinh ngày 19/8/2013. Trong 03 năm đầu chung sống hạnh phúc, sau đó dần phát sinh tranh cãi mất hạnh phúc gia đình. Ông Th thường xuyên chửi mắng và hành hung bà, nhiều lần khuyên can, yêu cầu chấm dứt hành vi bạo lực nhưng không được, sau đó ông Th vi phạm pháp luật và chịu hình phạt tù về tội giết người vào năm 2016, chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức. Sau đó bà về nhà mẹ đẻ ở và đi làm thuê tại Bình Dương. Bà yêu cầu ly hôn với ông Th, tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu xem xét.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 31/12/2020 (Bút lục 40) bà Tr yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng cho ông Th nhưng không được nên không ghi nhận được ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án của ông Th.
Tại phiên tòa, bà Tr, ông Th vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự: Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký tòa án cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, Điều 93 đến Điều 97, 195, 196, và 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tuy nhiên còn vi phạm Điều 203 của Bộ luật này do quá thời hạn chuẩn bị xét xử, kiến nghị khắc phục.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét thấy rằng đời sống vợ chồng giữa ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Bà Tr quyết tâm ly hôn nên cuộc hôn nhân này không thể níu kéo. Hơn nữa, ông Th có nhân thân không tốt, vi phạm pháp luật liên quan đến hành vi bạo lực, cháu Tr đang được bà Tr nuôi dưỡng nên không thể giao cháu Tr cho ông Th chăm sóc. Từ đó thấy rằng yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của bà Tr có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận lời trình bày giữa bà Tr không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con, giữa bà và ông Th không có tài sản chung, nợ chung, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết thành vụ kiện khác. Để bảo vệ quyền và lợi ích của cháu Tr, dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Th, khi ông Th thực hiện quyền này không ai được ngăn cản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các văn bản, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Tr yêu cầu được ly hôn với ông Th và tiếp tục nuôi con chung Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn, nuôi con để giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Theo tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình, một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chung sống, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Theo lời khai từ bà Tr, ông Th có hành vi sử dụng bạo lực để giải quyết những bất đồng trong đời sống vợ chồng không có chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử chỉ ghi nhận, không có cơ sở xem xét. Tuy nhiên việc ông Th bị chấp hành án về tội giết người thể hiện ông vi phạm pháp luật, có xu hướng sử dụng bạo lực gia đình. Trong thời gian ông chấp hành án bà Tr có yêu cầu ly hôn chứng tỏ tình cảm của bà Tr dành cho ông Th không còn, mục đích hôn không đạt nên Hội đồng xét xử thiết nghĩ cần phải chấm dứt tình trạng hôn nhân này bởi lẽ, cho dù có níu kéo đoàn tụ thì cũng không mang lại kết quả tốt đẹp cho cả 02, đặc biệt là đối với cháu Tr. Do đó yêu cầu ly hôn của bà Tr là chính đáng, có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu nuôi con: Tuy cháu Tr đang do bà Tr nuôi dưỡng, chăm sóc và hiện đi làm công nhân tại Bình Dương nên không thể ghi nhận nguyện vọng của cháu được nhưng xét thấy ông Th có nhân thân không tốt (vi phạm pháp luật), có xu hướng sử dụng bạo lực gia đình, đặc biệt trong thời gian chấp hành án ông không thể nuôi dưỡng cháu Tr nên bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu tiếp tục được nuôi dưỡng cháu là phù hợp. Tuy ông Th không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng theo quy định tại Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 ông có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Ghi nhận bà Tr không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.
Ghi nhận lời trình bày của bà Tr về việc không có tài sản chung, nợ chung. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí: Bà Tr phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Châu Thị Cẩm Tr.
Về hôn nhân: Bà Châu Thị Cẩm Tr ly hôn với ông Huỳnh Phú Th.
Về con: Giao bà Châu Thị Cẩm Tr trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Bảo Tr (Nữ), sinh ngày 19/8/2013 cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông Th không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Th có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản, nợ: Ghi nhận ông bà không có tài sản chung, nợ chung. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí: Bà Châu Thị Cẩm Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: AA/2019/005974 ngày 11 tháng 3 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, bà không phải nộp thêm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Cần Thơ; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS Q. Cái Răng; - UBND P. Phú Thứ, - Lưu: H. Anh, hồ sơ vụ án (TC: 12). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Minh Mẫn |