vanban.org

Bản án 56/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 10/01/2020 đến ngày 15/01/2020). Vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2020/HSST
Ngày: 06/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Quang;

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Việt Hòa và ông Nguyễn Ngọc Quang

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 06/5/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2020/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/HSST ngày 21 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H (tên gọi khác: H), sinh năm 1988; nơi cư trú: Khu 14, xã Xuân Áng, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Chí Nh, sinh năm 1961; con bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1962; có chồng là Nguyễn Ngọc Q (đã ly thân) và có 03 (con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2018). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 10/01/2020, đến ngày 15/01/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nghiêm Thị Nh , sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Khu 6, thôn Đông, thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.

- Anh Hoàng Văn T , sinh năm 2000; nơi ĐKHKTT: Bản nước nóng, xã Tú Lệ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

- Anh Hoàng Th , sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Số 44, tổ 4, phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/01/2020, Hoàng Văn T và Hoàng Th là bạn xã hội và có nhu cầu mua dâm nên thống nhất sẽ góp tiền cùng nhau đi mua dâm. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Th sử dụng số điện thoại 098.971.0904 gọi cho Nguyễn Thị Huyền, sau đó Th và T rủ H đến khách sạn New Horizon địa chỉ số 12, ngõ 442 đường Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế 2, Bắc Từ Liêm, Hà Nội để mua bán dâm. H đồng ý. Trên đường đi đến khách sạn, Th đưa cho T 2.000.000 đồng để Th toán tiền mua dâm. Khi đến khách sạn New Horizon, T thuê hai phòng 304 và 305 nhưng cả T , H và Th cùng vào phòng 304 ngồi. Tại đây, H thỏa thuận với T , Th giá bán dâm là 2.000.000 đồng/người/lượt. T đồng ý và đưa cho H 2.000.000 đồng để Th mua dâm H rồi nhờ H gọi thêm cho T một gái bán dâm nữa với giá 1.200.000 đồng, H đồng ý. Sau khi nhận 3.200.000 đồng của T , H gọi điện thoại đến số 0359.029.338 của Nh bảo Nh đến bán dâm cho T với giá 1.000.000 đồng tại khách sạn New Horizon, Nh đồng ý. Khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, H đón Nh ở cửa khách sạn New Horizon và đưa cho Nh 1.000.000 đồng là tiền T đã trả cho Nh . H và Th vào phòng 305, còn Nh và T vào phòng 304 để thực hiện mua bán dâm. Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, khi các đối tượng trên đang quan hệ tình dục thì bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị Huyền: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu bạc, lắp sim số 0975.053.823, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 pro màu vàng, lắp sim số 0985.722.089 và 2.200.000 đồng.

Thu giữ của Hoàng Văn T : 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh, số sim: 0819616694.

Thu giữ của Hoàng Th : 01 điện thoại Mobistar B310 màu đen xám, lắp sim số: 0989710904, đã qua sử dụng.

Thu giữ của Nghiêm Thị Nh : 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A71 màu trắng hồng đã qua sử dụng lắp sim số: 034.297.5759, sim số: 035.902.9338 và số tiền: 1.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra: Nguyễn Thị H khai nhận hành vi như trên và khai lần đầu môi giới bán dâm thì bị bắt. H được hưởng lợi 200.000 đồng. Nghiêm Thị Nh , Hoàng Văn T , Hoàng Th khai nhận hành vi như trên và khai lần đầu H môi giới cho các đối tượng mua bán dâm. Ngày 04/02/2020, cơ quan CSĐT Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huyền, Nh về hành vi bán dâm; T , Th về hành vi mua dâm.

Đối với chủ khách sạn New Horizon: Việc cho khách thuê phòng thực hiện theo đúng quy định; khi cho khách thuê phòng không biết để hoạt động mại dâm nên cơ quan điều tra không xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 55/CT-VKSBTL ngày 11 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị H về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt, xin được cải tạo tại địa phương để nuôi con nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 6 đến 9 tháng tù; không phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người mua, bán dâm, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 08/01/2020, Nguyễn Thị H đã làm trung gian dẫn dắt cho Nghiêm Thị Nh bán dâm cho Hoàng Văn T tại khách sạn New Horizon, địa chỉ số 12, ngõ 442, đường Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội nhằm thu lợi bất chính 200.000 đồng. Khi Nh bán dâm cho T thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của Nguyễn Thị H như trên đã phạm tội“Môi giới mại dâm”, theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm xói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng xấu đời sống văn hoá xã hội, trật tự trị an, làm điều kiện lan truyền căn bệnh HIV/AIDS và nhiều hậu quả nghiêm trọng đến giống nòi, gây lo lắng và bất bình trong nhân dân. Bị cáo không chỉ môi giới cho người khác mua bán dâm, mà còn trực tiếp bán dâm cho khách. Do đó cần xử lý nghiêm và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ thực hiện tội phạm của bị cáo, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định, vợ chồng sống ly thân, trực tiếp nuôi 3 con nhỏ; số tiền thu lợi bất chính đã bị truy thu nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu bạc, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số 0975053823;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 pro màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số 0985722089;

- 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số: 0819616694;

- 01 điện thoại Mobistar B310 màu đen xám, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số 0989710904;

- 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A71 màu trắng hồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số: 0342975759 và sim số: 0359029338;

- Số tiền: 3.200.000 đồng;

Là phương tiện dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan được quyền kháng cáo và bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm”.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 10/01/2020 đến ngày 15/01/2020).

4. Vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu bạc, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số 0975053823 (tình trạng thuê bao không hoạt động);

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 pro màu vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số 0985722089 (tình trạng thuê bao không hoạt động);

+ 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số: 0819616694 (tình trạng thuê bao không hoạt động);

+ 01 điện thoại Mobistar B310 màu đen xám, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số 0989710904 (tình trạng thuê bao không hoạt động)

+ 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A71 màu trắng hồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp sim số: 0342975759 và sim số: 0359029338 (tình trạng các thuê bao không hoạt động);

+ Số tiền: 3.200.000 đồng;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 111/20 ngày 13/3/2020 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

5. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ