- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2020/HS-ST Ngày : 04 – 3 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Công Chính
- Ông Nông Hữu Dần
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Hiền – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Toàn _ Chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 04/3/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2020/HSST ngày 13/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST-HS ngày 21/02/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990; tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký HKTT: Thôn x, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở trước khi bị bắt: Không nơi ở nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: Nguyễn Văn T và con bà: Trần Thị B. Bị cáo chưa có vợ con.
Về nhân thân: Năm 2017, bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định số 47/QĐ-UBND ngày 10/4/2017 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2019 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Đỗ Thị H – sinh năm: 1976 ( Vắng mặt)
Trí tại: Số xz đường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn K – sinh năm: 1987 ( Vắng mặt).
Trú tại: Số xy đường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy và sống lang thang tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vào sáng ngày 24/12/2018, H đến chơi game tại quán Internet LOL (Địa chỉ: Số zz đường E, phường L, thành phố B). Đến khoảng 07h30’ cùng ngày H một mình đi bộ từ quan internet đến tiệm tạp hóa H (Địa chỉ: Số nhà xz đường E, thành phố B) do chị Đỗ Thị H là chủ quán để mua thẻ cào điện thoại. Trong lúc mua thẻ cào, Nguyễn Văn H phát hiện ở khu vực quầy tính tiền của tiệm tạp hóa có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng nên đã nảy sinh ý định lấy trộm để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Sau khi chị H bán 02 thẻ cào cho Nguyễn Văn H xong thì chị H tiếp tục đi lấy hàng hóa để bán cho khách hàng khác. Lợi dụng lúc chị H không để ý, Nguyễn Văn H lén lút lấy trộm chiếc điện thoại của chị H bỏ vào trong túi áo khoác rồi nhanh chóng đi ra khỏi tiệm tạp hóa. Nguyễn Văn H gọi xe taxi chở đến tiệm cầm đồ P (Địa chỉ: Số xy đường N, phường Tân TiếnT, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) để cầm cố chiếc điện thoại cho anh Nguyễn Văn K vay số tiền 1.300.000 đồng. Đến sáng ngày 25/12/2018, H tiếp tục quay lại tiệm cầm đồ gặp anh K và thỏa thuận bán chiếc điện thoại trộm cắp được cho anh K với giá 1.500.000 đồng. Anh K đưa thêm cho H 200.000 đồng. Ngày 27/12/2018, anh K đã bán chiếc điện thoại trên cho một người không rõ nhân thân, lai lịch với giá 1.700.000 đồng. Ngày 30/12/2018, H đến quán internet LOL chơi game thì bị chị Đỗ Thị H phát hiện và trình báo sự việc. Sau đó, do sợ bị bắt giữ về hành vi trộm cắp tài sản, H đã bỏ trốn. Đến ngày 01/12/2019, Nguyễn Văn H bị bắt theo Quyết định truy nã số 04 ngày 19/4/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/KLĐG ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime G610 Gold White trị giá: 2.400.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 10/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và Bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Bị cáo không bào chữa gì đối với hành vi đã thực hiện. Bị cáo không tham gia tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về các quyết định và hành vi tố tụng đó. Do vậy, quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo, xét thấy: Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 07h30’ ngày 24/12/2018, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bà Đỗ Thị H, bị cáo Nguyễn Văn H đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng có trị giá: 2.400.000 đồng là phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a)…
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị một cách thích đáng. Song, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật và muốn có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặc dù bị cáo là người có nhân thân tốt, tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã trốn khỏi địa phương và bị bắt theo Lệnh truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới phát huy được tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Trong vụ án này còn có ông Nguyễn Văn K là người mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 cho bị cáo. Xong, ông K không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý là phù hợp.
Về tài sản bị thu giữ: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu xám, dung lượng 16Gb và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Oasic PaciFier thu giữ của Nguyễn Văn H. Nhận thấy các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả cho bị cáo là phù hợp nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với 01 Chứng minh nhân dân số 241718656 mang tên Nguyễn Văn H là giấy tờ chứng minh của bị cáo nên cần tuyên trả cho bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 của bà Đỗ Thị H. Do vậy, cần buộc bị cáo bồi thường cho bà Đỗ Thị H trị giá chiếc điện thoại theo như kết luận định giá là 2.400.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án..
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Nguyễn Văn H 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 01/12/2019.
* Về xử lý tài sản bị thu giữ: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu xám, dung lượng 16Gb và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Oasic PaciFier nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Tuyên trả 01 Chứng minh nhân dân số 241718656 mang tên Nguyễn Văn H cho bị cáo Nguyễn Văn H.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho bà Đỗ Thị H số tiền 2.400.000 đồng trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận : -VKSND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND TP.BMT; -TAND tỉnh Đắk Lắk; -Công an TP.BMT; -CCTHA DSTP.BMT, THA phạt tù; -Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; -Bị cáo; -Chánh án ; - Lưu: HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải An |