- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Khoa - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2020/HS - ST Ngày: 16 - 11 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Quy và bà Lê Thị Lan Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên tòa: Ông Phùng Văn Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2020/TLST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2020/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân K, sinh năm 1985 tại xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T và bà Vũ Thị L; tiền sự: Không; tiền án: có 01 tiền án:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2013/HS-ST ngày 12/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 07 năm tù, tính từ ngày 21/8/2013 về tội “cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2019; ngày 23/4/2014 bị cáo thi hành xong 988.000 đồng án phí (gồm án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2020 đến ngày 08/7/2020 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Hương L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hải Dương. Có mặt.
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1950; địa chỉ: Thôn N, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 06/7/2020, Nguyễn Xuân K điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, đeo biển số 34P6 - 4972 (xe do K mua của một người không quen biết) đi từ nhà ở thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương đến huyện N, tỉnh Hải Dương xem có người nào đi đường sơ hở thì sẽ chiếm đoạt tài sản của họ. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường H thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện N, K quan sát thấy bà Nguyễn Thị H đang điều khiển xe đạp điện màu đen đi phía trước cùng chiều, trên người có đeo 01 túi xách màu hồng, đeo chéo vai vắt ngang sang bên phía tay trái. K tăng ga xe đi lên song song áp sát bên trái bà H và dùng tay phải giật chiếc túi xách làm dây đeo của túi bị đứt rồi chuyển chiếc túi sang tay trái để cầm (bên trong túi có 492.000 đồng, gồm 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 11 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng, 07 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng, 12 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 15 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 12 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng). Sau khi giật được túi xách của bà H, K tăng ga xe nhanh chóng bỏ chạy được khoảng 200 mét thì bị người dân cùng lực lượng công an huyện Nam Sách bắt quả tang.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 17 ngày 10/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Nam Sách, kết luận: 01 túi xách bằng da màu hồng, kích thước 20 x 15 cm, trên một mặt có chữ “Love” có gắn đá, có dây đeo dài 65 cm đã bị đứt một bên, đã qua sử dụng, Hội đồng đã tiến hành khảo sát giá, nhưng trên địa bàn không có cơ sở mua bán tài sản trên đã qua sử dụng nên Hội đồng không có cơ sở để xác định giá trị của tài sản. Nếu mua mới loại túi xách có đặc điểm như yêu cầu định giá tại thời điểm tháng 7/2020 trên thị trường có giá là 103.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 91/KLGĐ - PC09 ngày 27/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Bề mặt nơi đóng số khung, số máy của xe bị tẩy xóa làm mất các ký tự của xe, bằng mắt thường không đọc được. Hàng chữ số nguyên thủy của xe là: Ở khung xe: RLCS5C641DY006291, ở thân máy: 5C64 - 00?300 (tại vị trí dấu “?” có một số nhưng không xác định được là số nào).
Tại bản cáo trạng số 51/CT -VKS - NS ngày 14/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đối với mình là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo xác định Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 42 tháng đến 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/7/2020; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết; về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho phát mại sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen, số khung: RLCS5C641DY006291, số máy: 5C64 - 00?300; về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 06/7/2020, tại đoạn đường H thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Xuân K có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, đeo biển số 34P6 – 4972 đi song song, áp sát phía bên trái bà Nguyễn Thị H đang điều khiển xe đạp điện đi cùng chiều, dùng tay phải giật và chiếm đoạt của bà H 01 túi xách bằng da màu hồng, kích thước 20 x 15 cm, trên một mặt có chữ “Love” có gắn đá, có dây đeo dài 65 cm, trong túi có 492.000 đồng, rồi bỏ chạy thì bị người dân phối hợp với công an huyện Nam Sách bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, vì mục đích tư lợi. Bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện để giật tài sản của bà H đang đi xe đạp điện, đây là thủ đoạn nguy hiểm. Tại Bản án số 53/2013/HSST ngày 12/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, đ, e khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí nhưng chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự, chưa được xóa án tích, nay bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội, bị cáo bị truy tố theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự nhưng phạm tội thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn, nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo đã từng bị Tòa án kết án về tội “Cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều này thể hiện bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật kém. Do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 01 chiếc túi xách bằng da màu hồng và số tiền 492.000 đồng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Nam Sách thu giữ và trả lại cho bị hại là bà H. Việc xử lý vật chứng như vậy là phù hợp nên không đặt ra giải quyết.
Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, qua trưng cầu giám định xác định số khung RLCS5C641DY006291, số máy 5C64-00?300 là hàng chữ số nguyên thủy, xe đã qua sử dụng, bị cáo khai là mua của một người không quen biết, không có giấy tờ, là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Nam Sách thu giữ, chưa xác định được chủ sở hữu của xe. Do vậy, cần giao chiếc xe trên cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 03 tháng. Nếu quá thời hạn nêu trên mà không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì cho phát mại sung quỹ Nhà nước.
Quá trình điều tra đã xác định biển số 34P6 - 4972 không phải là biển số của chiếc xe trên nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Nam Sách đã tách ra để xem xét xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí và đã có đơn đề nghị miễn nộp án phí nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K 43 (bốn mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/7/2020.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Giao 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, số khung RLCS5C641DY006291, số máy 5C64-00?300 cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 03 tháng. Nếu quá thời hạn nêu trên mà không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì cho phát mại sung quỹ Nhà nước.
(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/10/2020 giữa Công an huyện Nam Sách và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân K được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nam Sách; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS huyện Nam Sách; - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hậu |