- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Đức H - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Đức H về tội danh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2020/HS-PT Ngày: 19-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quản
Ông Đặng Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2020, tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận t ử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 55/2020/TLPT-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Cao Đức H, do có kháng cáo của bị cáo Cao Đức H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
- Bị cáo kháng cáo: Cao Đức H, sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn G, xã TT, huyện HT, tỉnh BT; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Như T và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 22/01/2020 đến ngày 30/01/2020, tạm giam từ ngày 31/01/2020, hiện có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn K – Luật sư Văn phòng luật sư NK thuộc Đoàn luật sư tỉnh BT (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 21/01/2020, Cao Đức H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60Y7- 68… lưu thông trên đường đất đỏ liên thôn hướng thôn CK ra đường Quốc lộ 55. Khi đi ngang qua tiệm tạp hóa của bà Dương Thị Ngọc A tại thôn PT, xã TT, huyện HT, thấy bà A đang ngồi quay mặt vào trong xem ti vi và trên cổ có đeo dây chuyền vàng nên Cao Đức H nảy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền của bà A.
Thực hiện ý định, H dựng xe mô tô cách đó khoảng 300m rồi đi bộ đến vị trí bà A ngồi. Đến nơi, thấy bà A ngồi trên ghế nhựa quay mặt vào trong xem tivi nên H dùng tay phải nắm sợi dây chuyền nhưng do bà A đang õa tóc nên túm luôn tóc của bà A, H giật về phía sau làm bà A té ngã xuống đất nghiêng người sang, bà A dùng tay phải nắm lấy tay của H, thì bị H lôi kéo ra gần m p đường đất đỏ (cách vị trí ngồi ban đầu khoảng 02-03m) làm bà A bị trầy ướt chân, tay. H dùng thêm tay trái nắm sợi dây chuyền thì bà A dùng tay còn lại nắm lấy tay H. Để bà A buông tay, khi hai tay đang nắm lại H thì H vung tay lên xuống nhiều lần trúng vào vùng vai của bà A gây sưng nề. Sau đó, H dùng lực giật mạnh làm đứt móc nối và sợi dây đứt thành 02 đoạn, rồi cầm theo 02 đoạn dây chuyền bỏ chạy. Bà A hô “cướp…cướp…” thì Đinh Hoàng P và Ngô Văn T đang gần đó nghe thấy nên dùng e mô tô đuổi theo đến vị trí H dựng xe mô tô 60Y7- 6880 thì mất dấu. H chạy bộ đến khu vực đất trồng keo tràm của Công ty HK (cách vị trí bà A ngồi khoảng 01km), cất giấu 02 đoạn sợi dây chuyền vừa cướp được phía sau chuồng gà bỏ hoang rồi nằm ngủ tại đây đến gần sáng ngày 22/01/2020 thì đi về nhà.
Đến trưa ngày 22/01/2020, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Cao Đức H đến Công an xã TT đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hàm Tân kết luận giá trị của sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 3,4 chỉ là 9.265.000đồng.
Vật chứng vụ án đã thu giữ gồm 01 móc nối dây chuyền và 01 hoa tai (do bà A giao nộp), 02 đoạn dây chuyền vàng, k ch thước mỗi đoạn là 27cm và 01 áo khoác màu anh đen, 01 e mô tô gắn biển kiểm soát số 60Y7- 68…, 01 nón bảo hiểm màu xanh nâu, 01 quần lửng màu kem.
Về phần dân sự: Gia đình Cao Đức H đã bồi thường thiệt hại cho bà Dương Thị Ngọc A 01 sợi dây chuyền vàng có trọng lượng và chủng loại như dây chuyền mà bà A bị thiệt hại. Bà A đã nhận và không yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đã quyết định:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Cao Đức H phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Cao Đức H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày 22/01/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên ử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 03 tháng 6 năm 2020, bị cáo Cao Đức H kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm em t lại tội danh và in giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Bị cáo định giật dây chuyền của bị hại, nhưng bị bị hại chụp được tay giữ lại, bị cáo muốn thoát thân nên mới vung tay thoát ra. Tuy nhiên, do bị hại giữ chặt tay nên bị cáo mới lôi bị hại ra ngoài nhằm tẩu thoát. Do đó, đề nghị Hội đồng t ử em t tội danh đối với bị cáo và xem t hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo và thống nhất quan điểm bào chữa của luật sư, in Hội đồng t ử cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: Hành vi của bị cáo thể hiện bị cáo đã dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản của bị hại, nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 điều 168 Bộ luật hình sự là đúng quy định. Tuy nhiên, t thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Quá trình điều tra, truy tố, t ử, bị cáo đều ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, nên đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để ử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng t ử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Cao Đức H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ s để kết luận: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 21/01/2020, khi đi ngang qua tiệm tạp hóa của bà Dương Thị Ngọc A tại thôn PT, xã TT, huyện HT, thấy bà A đang ngồi quay mặt vào trong xem ti vi và trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng. Bị cáo đi đến từ phía sau, dùng tay phải giật sợi dây chuyền nhưng do bà A đang õa tóc nên túm luôn tóc của bà A giật về phía sau làm bà A té ngã xuống đất. Lúc này, bà A dùng tay phải nắm lấy tay của bị cáo thì bị bị cáo lôi kéo ra gần m p đường đất đỏ, cách vị trí ngồi ban đầu khoảng 02-03m. Sau đó, bị cáo dùng thêm tay trái nắm sợi dây chuyền thì bà A dùng tay còn lại nắm lấy tay của bị cáo. Để bà A buông tay, bị cáo vung tay lên xuống nhiều lần trúng vào vùng vai của bà A gây sưng nề. Sau đó, bị cáo giật mạnh làm đứt móc nối và sợi dây chuyền vàng đứt thành 02 đoạn, rồi cầm theo 02 đoạn dây chuyền tẩu thoát. Theo bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hàm Tân kết luận sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 3,4 chỉ, trị giá 9.265.000đồng.
[2] Ý kiến của bị cáo và quan điểm bào chữa của luật sư đề nghị em t lại tội danh của bị cáo, Hội đồng t ử nhận thấy: khi bị cáo giật sợi dây chuyền đã túm luôn tóc của bị hại giật mạnh làm bị hại t ngã, sau đó lôi bị hại đi cách vị tr ngồi ban đầu khoảng 2-3m và giật tài sản, nên hành vi của bị cáo là dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[3] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Cao Đức H phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng t ử nhận thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể: bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, đầu thú, bị hại có đơn in giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, t ử, bị cáo đều thể hiện sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để ử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự, như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng t ử chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Đức H về tội danh.
2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Đức H về việc in giảm nhẹ hình phạt; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;
Áp dụng: khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Cao Đức H phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Cao Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2020.
3. Về án ph phúc thẩm: Bị cáo Cao Đức H không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, THA huyện H.Tân; - S Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguy n H ng T i |