- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Diễm T - Nguyễn Thanh T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Võ Thị Diễm T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2020/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2020. V/v:“Xin ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Trần Thị Lệ.
2. Ông: Nguyễn Quốc Tiến.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 263/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc “Xin ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Võ Thị Diễm T, sinh năm: 1990. (Có mặt)
Địa chỉ: Số 151 đường Lâm Quang Ky, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1987. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 363 đường Trần Khánh Dư, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa, nguyên đơn bà Võ Thị Diễm T trình bày:
Bà Võ Thị Diễm T và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vào ngày 20/4/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và bất hòa, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cãi nhau, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Hai bên đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành và đã ly thân từ tháng 10/2019 cho đến nay. Nay thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T2.
Về con chung: Bà T xác nhận giữa bà và ông T2 quá trình chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Duy L, sinh ngày 19/7/2016, hiện nay đang sống cùng với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và xác định đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu ông T2 cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Võ Thị Diễm T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T2 cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận không có tài sản chung và cam kết không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thị Diễm T khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh T có nơi đăng ký thường trú tại địa chỉ số 363 đường Trần Khánh Dư, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điêm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, cũng không có căn cứ cho việc vắng mặt của ông T2 là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Diễm T và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được UBND phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/4/2015, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà T khởi kiện xin ly hôn ông T2 với lý do: Thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Bà T và ông T2 đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành nên cũng đã sống ly thân từ tháng 10/2019 cho đến nay.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông T2 vẫn cố tình vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn cũng như chứng cứ do bà T cung cấp. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T2 đã được Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng ông T2 vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, bà T xác định giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Diễm T.
Về con chung: Bà Võ Thị Diễm T xác định giữa bà và ông T2 có 01 người con chung tên Nguyễn Duy L, sinh ngày 19/7/2016, hiện nay đang sống cùng với bà T. Xét thấy, cháu L đang sống cùng với bà T và hiện nay cháu cũng còn nhỏ nên việc sống cùng mẹ sẽ đảm bảo được chăm sóc tốt hơn, nên cần thiết giao cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống và ổn định về mặt tinh thần cho cháu. Căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung của bà T.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thị Diễm T xác định đủ điều kiện tự nuôi con nên tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết cấp dưỡng nuôi con trong vụ kiện này.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Diễm T xác định giữa bà và ông T2 không có tài sản chung và cam kết hiện nay không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ kiện này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điề u 147 của Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Võ Thị Diễm T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004342 ngày 17/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bà Võ Thị Diễm T đã nộp đủ án phí phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 4 Điề u 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Võ Thị Diễm T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Diễm T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Duy L, sinh ngày 19/7/2016 cho bà Võ Thị Diễm T trực tiếp nuôi dưỡng.
Do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ kiện này. Nếu sau này, trong quá trình nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, bà Võ Thị Diễm T gặp khó khăn về kinh tế thì có quyền yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con chung hoặc trong trường hợp bà T không còn đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung thì có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Thanh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản ông T2 thực hiện các quyền và nghĩa vụ này.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Diễm T xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết và cam kết hiện nay không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Nếu ông Nguyễn Thanh T có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí : Bà Võ Thị Diễm T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004342 ngày 17/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bà Võ Thị Diễm T đã nộp đủ án phí phải nộp.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/7/2020). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. * Nơi nhận:
| - VKSND TP. Rạch Giá; - TAND tỉnh Kiên Giang; - Chi cục THSDA TP. Rạch Giá; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Phƣơng Thanh |