- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Diễm P - Nguyễn Văn Nhừ E"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2020/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 7 - 2020 V/v: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Cẩm Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Hồng Gái.
2. Ông Cao Phước Nghĩa.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thành Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòn Đất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2020/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diễm P, sinh năm: 1986; địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh K; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nhừ E, sinh năm: 1981; địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh K; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Diễm P trình bày:
Chị và chồng là anh Nguyễn Văn Nhừ E tự quen biết yêu thương nhau, kết hôn năm 2003, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh K. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02/2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, anh Nhừ E có người phụ nữ khác. Quá trình chung sống anh, chị có hai đứa con chung là Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 14/10/2005 và Nguyễn Lê Thị Đỗ Q, sinh ngày 28/4/2008. Các con chung hiện đang sống chung với chị P. Về tài sản, nợ: Không có.
Chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nhừ E, chị yêu cầu được tiếp tục nuỗi dưỡng cả hai đứa con chung, không yêu cầu anh Nhừ E phải cấp dưỡng nuôi.
Anh Nhừ E đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập anh Nhừ E đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Nhừ E vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
Tại các bản tự khai ngày 10/6/2020 các cháu M, Quyên có nguyện vọng sống với mẹ khi cha, mẹ ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng:
Chị Lê Thị Diễm P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn Nhừ E, giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Anh Nhừ E với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh K nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Anh Nhừ E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt anh Nhừ E không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh, chị là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 của BLTTDS. [2] Về nội dung:
Chị P, anh Nhừ E kết hôn vào năm 2003và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh K nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Chị P xác định chị và anh Nhừ E đã sống ly thân, chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng 02/2020 cho đến nay. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2020, từ đó cho đến nay hai bên không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị P yêu cầu được ly hôn với anh Nhừ E là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp nhận.
Về nuôi con: Anh, chị có hai đứa con chung tên là Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 14/10/2005 và Nguyễn Lê Thị Đỗ Q, sinh ngày 28/4/2008. Các con chung hiện đang sống chung với chị P. Quá trình giải quyết vụ án các cháu M, Quyên cũng có nguyện vọng sống với cha khi cha, mẹ ly hôn. Tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”. Xét thấy, yêu cầu của chị P phù hợp với nguyện vọng của các con và phù hợp với quy định của pháp luật đã được viện dẫn như trên nên được Tòa án chấp nhận. Giao các cháu M, Quyên cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật. Anh Nhừ E được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P có việc làm và có thu nhập ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu, không yêu cầu anh Nhừ E cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.
Về chia tài sản, nợ: Không có. [3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Diễm P được ly hôn với anh Nguyễn Văn Nhừ E.
2. Về nuôi con:
Giao Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 14/10/2005 và Nguyễn Lê Thị Đỗ Q, sinh ngày 28/4/2008 cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật. Anh Nhừ E được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.
Các cháu M, Quyên có nguyện vọng sống với cha khi cha, mẹ ly hôn.
3. Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000945 ngày 04/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, đương sự có mặt tại phiên tòa được tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Cơ quan Thi hành án huyện; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cẩm Tú |