- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa ông Võ Văn H và Võ Văn Ph"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 26, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 56/2020/DS-ST Ngày: 19-6-2020 V/v tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thụy Đang Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Hồng Hạnh
2. Ông Lý Văn Til
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2020/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2020/QĐXX-ST ngày 03 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Võ Văn H, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Trường Bình, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ.
Bị đơn: 1/ ông Võ Văn Ph, sinh năm 1977 (xin vắng mặt)
2/ bà Phạm Ngọc Y, sinh năm 1978 (xin vắng mặt)
3/ anh Võ Tuấn A, sinh năm 1999 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Trường Bình, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ.
Người làm chứng: ông Võ Hoàng Th, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Trường Bình, xã Trường Thắng, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Võ Văn H trình bày: Ông Võ Hoàng Th là anh ruột của ông có xảy ra xô xát, đánh nhau với ông Võ Văn Ph, bà Phạm Ngọc Y và Võ Tuấn A. Ông Th có đánh nhau với Võ Tuấn A nên ông có đến xô anh ông ra thì bị Tuấn A đánh trúng vào mặt nên ông có đánh lại Tuấn A. Sau đó cha Tuấn A là ông Võ Văn Ph và mẹ Tuấn A là bà Phạm Ngọc Y và Tuấn A có cầm cây đánh ông. Khi đánh nhau thì ông bị đánh bất tỉnh nên ông không nhìn thấy ai đã làm đứt sợi dây chuyền của ông, khi ông tỉnh lại ở tại ruộng nơi đánh nhau thì ông phát hiện bị mất sợi dây chuyền. Ông có báo bị mất sợi dây chuyền nhưng chính quyền địa phương không ai giải quyết, ông có yêu cầu xã cử người vào chỗ đánh nhau cùng với gia đình ông Ph tìm sợi dây chuyền cho ông, xã hứa cho người vào nhưng không có ai vào tìm. Ông bị thương tích nên cũng không có đến chỗ mất sợi dây chuyền để tìm. Nay ông yêu cầu ông Ph, bà Y, Tuấn A phải có trách nhiệm bồi thường cho ông sợi dây chuyền bị mất có trọng lượng 4 chỉ 7 phân 03 ly vàng 24K loại vàng 9999 (là sợi dây chuyền ông mua ở Đài Loan, không có hóa đơn).
Bị đơn anh Võ Tuấn A trình bày: anh không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bên nguyên đơn, khi xảy ra đánh nhau anh không biết ông H có đeo dây chuyền hay không, vì đánh nhau nên anh cũng không thấy ông H có bị rớt sợi dây chuyền. Sau đó, anh và gia đình không có đến chỗ đánh nhau để tìm sợi dây chuyền cho bên ông H, xã có kêu nhưng anh không có đi do bận việc gia đình.
Bà Phạm Ngọc Y, ông Võ Văn Ph trình bày tại tờ tự khai: ông, bà không hề biết về tài sản của ông H, nay bảo ông, bà đền phần vàng bị mất thì ông, bà không đồng ý.
Tại phiên toà hôm nay: ông H và anh Tuấn A vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: ông Võ Văn Ph, bà Phạm Ngọc Y có yêu cầu xin vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Võ Văn Ph và bà Phạm Ngọc Y.
Giữa ông Võ Văn H, Võ Hoàng Th, Võ Văn Ph, Phạm Ngọc Y và Võ Tuấn A có xảy ra xô xát, đánh nhau khi cho vịt ăn đồng. Trong lúc đánh nhau thì ông H bị rớt mất sợi dây chuyền, ông H yêu cầu ông Ph, bà Y và Tuấn A phải bồi thường sợi dây chuyền bị mất nhưng bị đơn không đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Nguyên đơn ông Võ Văn H cho rằng trong lúc đánh nhau với gia đình ông Ph thì ông bị đứt mất sợi dây chuyền đang đeo trên cổ, sợi dây chuyền này ông mua ở Đài Loan có trọng lượng 4 chỉ 7 phân 03 ly vàng 24K loại 9999 (mua không có hóa đơn) nên gia đình ông Ph phải có trách nhiệm bồi thường. Phía bị đơn không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của nguyên đơn do khi đánh nhau cũng không nhìn thấy ông H có đeo dây chuyền. Theo lời khai của ông Nguyễn Hoàng Th là người làm chứng “thì ông cũng chỉ nghe ông H nói bị đứt mất sợi dây chuyền chứ không tận mắt nhìn thấy Tuấn A, ông Ph hay bà Y khi đánh nhau với ông H những người này đã làm đứt sợi dây chuyền của ông H”. Do ông H không chứng minh được khi đánh nhau với phía bị đơn, bị đơn có sự tác động vào sợi dây chuyền đang đeo trên cổ làm đứt mất sợi dây chuyền của ông và cũng không chứng minh được sợi dây chuyền bị mất có trọng lượng đúng là 04 chỉ 07 phân 03 ly vàng 24K loại 9999 nên yêu cầu khởi kiện của ông H là không có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí: nguyên đơn chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 26, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn H về việc yêu cầu ông Võ Văn Ph, bà Phạm Ngọc Y và anh Võ Tuấn A bồi thường sợi dây chuyền bị mất có trọng lượng 04 chỉ 07 phân 03 ly vàng 24K loại 9999.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Võ Văn H phải nộp 940.000đồng. Trừ vào tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp theo biên lai thu số 015510 ngày 27/02/2020, ông H còn phải nộp thêm 470.000đồng cho đủ số tiền án phí phải nộp.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPCT; - VKS huyện; - THA huyện; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thụy Đang Phượng |