- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn L "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2019/HS-ST Ngày: 30/12/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huê và bà Trần Thị Kia.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 30/12/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2019/TLST-HS ngày 04/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2019/QĐXXST-HS ngày 16/12/2019 đối với bị cáo:
Đào Văn L, sinh ngày 18/4/1990 tại A K, Gia Lai; nơi cư trú: Tổ M, phường AT, thị xã AK, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệ p: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; con ông Đào Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; có vợ Nguyễn Thị D (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/9/2005, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã A K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa và o Trườ ng giá o dưỡ ng về hà nh vi trộ m cắ p tà i sả n, đến ngày 25/7/2007 chấ p hà nh xong ; bị bắt tạm giữ từ ngày 25/9/2019, đến ngày 01/10/2019 tạm giam cho đến nay; có mặt.
* Bị hại: Đinh Đình T, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn AB, xã CA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Đỗ Xuân T1, sinh năm 1992; địa chỉ: 110 QT, Khối 4, thị trấn P, huyện TS, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
2. Trần Thị Thùy T2, sinh năm 1977; địa chỉ: Khối HL, thị trấn P, huyện TS, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
3. Trần Thị Diễm L1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn AL, xã PA, huyện ĐP, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
4. Lương Thị L2, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn A3, xã SA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đà o Văn L và Trần Thị Diễm L1 có quan hệ tình cảm, cùng thuê phò ng trọ Hoa Huệ thuộ c Tổ H, phườ ng AT, thị xã AK để sống chung. Sáng ngày 22/9/2019, L điề u khiể n xe mô tô biể n số 81G1-156.xx chở L1 đến quán HDT (Tổ H, phườ ng AP, thị xã AK) để uống nước. Sau đó, L1 lái xe đi về , còn L đi bộ theo tỉ nh lộ 669 đến ngã ba hướng vào xã CA, thị xã AK. Khi đi ngang qua nhà anh Đinh Đì nh T thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh -bạc biển số 81G1-115.xx dự ng trong sân, chìa khóa cắm vào ổ khóa điện, không có ngườ i trông coi. Thấ y vậ y, L dắ t xe mô tô biể n số 81G1-115.xx ra cổ ng rồ i nổ má y xe chạ y xuố ng đè o An Khê. Khi đế n thị trấ n P, huyệ n TS, tỉnh Bình Định, để tránh bị phát hiện L đến tiệm dán keo xe do anh Đỗ Xuân T1 làm chủ, yêu cầ u dá n toà n bộ xe sang màu đen hết 1.000.000đ. Tại đây , L phát hiện biển số 77H1-260.06 để trong thùng xốp nên lén lút lấy biển số bỏ và o tú i xá ch mang theo. Sau khi thay đổ i màu sơn xe và tháo bỏ một số ốp nhựa bên ngoài bỏ lại tại tiệm anh T 1, L lái xe hướ ng về thị xã A K. Khi đi đến tiệm sửa xe Thi do chị Trầ n Thị Thù y T 2 làm chủ, L mượ n 01 cờ lê để thá o biể n số 81G1-115.xx thay bằ ng biể n số 77H1-260.06. Trên đườ ng về , L vứ t biể n số 81G1-115.xx ở lùm cây giữa đèo An Khê rồ i mang xe về nhà nghỉ Hoa Huệ. Đế n sá ng ngà y 25/9/2019, L điề u khiể n xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter gắn biển số77H1-260.06 cùng L1 đi ăn sá ng ở khu vực chợ cũ phường A P thì bị Công an thị xã A K phát hiện, tạm giữ L cùng tang vật có liên quan đưa về trụ sở làm việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số:100/KLĐGTS ngày 26/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã AK xác định: Giá trị của chiếc xe mô tô nhã n hiệ u Yamaha-Exciter, màu sơn xanh bạc , dung tí ch 149, số má y G3D4E06038x, số khung 0610FY05449x, mang biể n số 81G1-115.xx (đã qua sử dụ ng) là 57,5% tương đương vớ i số tiề n 45.490.000đ x 57,5% = 26.157.000đ (Hai mươi sá u triệ u mộ t trăm năm mươi bả y ngà n đồ ng).
Tại Kết luận giám định số : 607/KLGĐ ngà y 14/10/2019 của Phòng kỹ thuậ t hì nh sự Công an tỉ nh Gia Lai kế t luậ n biể n số xe mô tô
77H1-260.06 là giả. Cơ quan CSĐT Công an thị xã A K đã chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện TS, tỉnh Bình Định xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã AK đã tạm giữ một số vật chứng gồm: 01 xe mô tô nhã n hiệ u YamahaExciter số máy G3D4E 06038x, số khung 6010FY05449x, biể n số 77H1-260.06; 01 bọc sên, 02 miế ng ố p lố c má y , 01 ốp gác chân sau , 01 miế ng ố p cả n sau, 01 miế ng ố p nhông trướ c đề u bằ ng nhự a mà u bạ c . Các vật chứng hiện đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã A K xử lý trả lại cho anh Đinh Đì nh T.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đinh Đì nh T đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường.
Tại phiên tòa, bị hại Đinh Đình T trình bày: Vào trưa ngày 22/9/2019, anh có dựng xe mô tô nhã n hiệ u Yamaha loạ i Exciter mà u xanh -bạc biển số 81G1-115.xx trong sân nhà thì bị mấ t trộm và anh làm đơn trình báo đến Công an thị xã AK. Quá trình điều tra, đã xác định bị cáo Đào Văn L là người trực tiếp lấy trộm tài sản trên. Hiện nay anh đã nhận lại tài sản bị mất nên không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự và anh đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 03/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã AK đã truy tố bị cáo Đào Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã AK giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn L từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã AK, Viện kiểm sát nhân dân thị xã AK, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/9/2019, tại thôn AB, xã CA, thị xã AK, tỉnh Gia Lai, khi phá t hiệ n xe mô tô dự ng trong sân , chìa khóa cắm vào ổ khóa đ iệ n, không có ngườ i trông coi, bị cáo Đà o Văn L đã lén lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 81G1-115.xx trị giá 26.157.000đ của anh Đinh Đình T. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp được đã thu hồi trả lại cho bị hại. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từ ng bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã AK áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa và o Trườ ng giá o dưỡ ng về hà nh vi trộ m cắ p tà i sả n , nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã AK đã xử lý đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đào Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Đào Văn L 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 25/9/2019.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (30/12/2019), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND thị xã AK; - Công an thị xã AK; - Chi cục THADS thị xã AK; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đồng Ánh Đông |