vanban.org

Bản án 56/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự ghi nhận anh Vũ Văn T đã nhận lại số tiền 47.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Thanh B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Thanh B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự ghi nhận anh Vũ Văn T đã nhận lại số tiền 47.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2019/HS-ST
Ngày: 30-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Hữu Cải;

Bà Thị Amina.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thanh B, sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT: Ấp 1, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà La Thị Quế H; có vợ là Lý Mỹ C và 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2019 (có mặt).

- Bị hại: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thanh B làm thuê tại cửa hàng mua bán xe mô tô cũ “T H” thuộc Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cho anh Vũ Văn T. Vào khoảng 09 giờ, ngày 06/5/2019, khi thấy gia đình anh T đang bận trao đổi mua bán xe mô tô với khách trước nhà, B đi vào phòng ngủ của vợ chồng anh T tìm tài sản lấy trộm. B nhìn thấy túi xách màu đen để trên đầu giường ngủ mở ra lấy được số tiền 48.000.000 đồng bỏ vào túi quần rồi ra làm việc bình thường. Đến chiều cùng ngày, B mang trả cho ông Đỗ Văn T 21.400.000 đồng do nợ trước đó, tiêu xài hết 100.000 đồng, còn lại 26.500.000 đồng mang đi cất giấu. Sau khi phát hiện mất tài sản anh T đến Công an xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh trình báo sự việc. Lúc 15 giờ 30 phút ngày 07/5/2019, B biết bị phát hiện nên đến Công an xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, B đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKSTC ngày 04/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173; các Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thanh B từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Ghi nhận bị hại đã nhận lại số tiền 47.900.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

Bị cáo, bị hại không tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 09 giờ 00 phút, ngày 06/5/2019, tại cửa hàng mua bán xe mô tô cũ “T H” thuộc Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do anh Vũ Văn T làm chủ, bị cáo đã lén lút đi vào phòng ngủ trộm cắp số tiền 48.000.000 đồng của anh T. Đến ngày 07/5/2019, biết mình bị phát hiện nên bị cáo đến Công an xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đầu thú. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Xét thấy, với hành vi phạm tội của bị cáo cần xử phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội; đồng thời, có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Anh T đã nhận lại số tiền 47.900.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; các Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thanh B 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự ghi nhận anh Vũ Văn T đã nhận lại số tiền 47.900.000 (bốn mươi bảy triệu chín trăm nghìn) đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

3. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Thanh B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo và anh T biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ