vanban.org

Bản án 56/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
T A ÁN NH N D N
HU N PH
ÁO
T NH B NH D NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2019/HS-ST.
Ngày 09-10-2019.

NHÂN DANH

N ỚC C N H A X H CHỦ N H A V T NAM

T A ÁN NH N D N HU N PH

ÁO, T NH B NH D N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Ông Phạm Văn Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08, 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số: 54/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn N, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1978 tại tỉnh Quảng Bình; thường trú: Ấp NV, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T (đã chết) và bà Phạm Thị B (đã chết); bị cáo có vợ tên Thái Thị Hồng T1, sinh năm 1978 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: không;

Nhân thân: Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2013/HSST ngày 17/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt tiền 7.000.000 đồng đối với bị cáo về tội đánh bạc; Quyết định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội số 19/QĐ-XPVPHC ngày 03/3/2017 của Công an huyện Phú Giáo xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “xâm hại hoặc thuê người khác để xâm hại sức khỏe của người khác” và 1.500.000 đồng về hành vi “đánh bạc”.

Bị cáo Trần Văn N bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 28/6/2019 đến ngày 15/7/2019 và được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh từ ngày 15/7/2019 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1989; thường trú: Ấp BA, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người làm chứng: Bà Ngưu Thị Kim H1; vắng mặt.

N DUN VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 10/02/2019 (mùng 6 tết nguyên đán), bị cáo Trần Văn N đến nhà cô N (không rõ họ tên) tại ấp TT, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để uống rượu. Đến 18 giờ ngày 10/02/2019, N đi đến quán nước giải khát của Ngưu Thị Kim H tại ấp TT, xã AB, huyện Phú Giáo để uống cà phê. Khoảng 20 giờ, Trần Văn N và Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp BA, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xảy ra mâu thuẫn về vị trí chỗ ngồi. N dùng tay đánh vào mặt H một cái, H dùng tay nắm áo của N được mọi người xung quanh can ngăn. Sau đó, N lấy vỏ chai bia hiệu Sài Gòn đỏ phía sau nhà của H1 tiến đến vị trí của H đang đứng, H liền lùi lại phía sau vấp phải bậc thềm xi măng t ngã xuống đất nhưng H không bị thương tích, N cầm vỏ chai bia bằng tay phải giơ lên đánh từ trên xuống, H dùng tay trái đỡ nên bị trúng vào khuỷa tay trái. Ngày 21/3/2019, Nguyễn Thị Tuyết H làm đơn gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo tố cáo Trần Văn N về hành vi gây thương tích. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 189/2019/GĐPY ngày 08/5/2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Dương xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Thị Tuyết H là 11 %.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo tạm giữ: 01 giấy chứng minh nhân dân số 281297537 mang tên Trần Văn N; 01 vỏ chai bia thủy tinh hiệu Sài Gòn đỏ của bà Ngưu Thị Kim H.

Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKSPG, ngày 19/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng x t xử tuyên phạt bị cáo Trần Văn N mức hình phạt từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Tuyết H và bị cáo Trần Văn N đã thỏa thuận bồi thường xong với số tiền 55.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) vỏ chai bia nhãn hiệu Sài Gòn đỏ (SÀI GÒN export), là hung khí sử dụng vào việc phạm tội; trả cho Trần Văn N 01 giấy chứng minh nhân dân số 281297537 cấp ngày 31/8/2017 mang tên Trần Văn N do không liên quan đến tội phạm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với kết quả giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương đối với bị hại Nguyễn Thị Tuyết H, bị cáo đã bồi thường cho bị hại với số tiền 55.000.000 đồng. Bị cáo thống nhất với tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát truy tố đề nghị; ngoài ra, không có ý kiến khác.

Tại phiên tòa, bị hại trình bày xác định chính bị cáo Trần Văn N đã dùng vỏ chai bia đánh gây thương tích cho bị hại, thống nhất với kết quả giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương, bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong chi phí điều trị thương tích với số tiền 55.000.000 đồng; về hình phạt, đề nghị Hội đồng x t xử giảm nh hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Tại phiên tòa, người làm chứng Ngưu Thị Kim H1 vắng mặt; tuy nhiên, lời khai trong quá trình tố tụng thừa nhận tại thời điểm xảy ra vụ án, xác định chính bị cáo Trần Văn N dùng vỏ chai bia đánh vào cánh tay của bị hại gây thương tích.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng x t xử xem x t giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 20 giờ ngày 10/02/2019 tại quán cà phê của bà Ngưu Thị Kim H tọa lạc tại ấp TT, xã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, do mâu thuẫn vị trí ngồi nên bị cáo Trần Văn N dùng vỏ chai bia đánh gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết H.

[3] Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 189/2019/GĐPY ngày 08/5/2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Dương xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Thị Tuyết H là 11%.

[4] Do mâu thuẫn về chổ ngồi, bị cáo dùng vỏ chai bia là hung khí nguy hiểm đánh vào cánh tay trái gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết H, hậu quả làm cho bị hại bị thương tích 11%, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[5] Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[6] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[7] Xét hành vi của bị cáo dùng vỏ chai bia đánh gây thương tích cho bị hại H với tỷ lệ thương tích 11% là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng vỏ chai bia đánh gây thương tích cho người khác là nguy hiểm sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả gây ra cho bị hại. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại mà còn làm mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[8] Về nhân thân: Bị cáo đã chấp hành bản án của Tòa án, quyết định xử phạt hành chính lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng, tuy nhiên đến thời điểm phạm tội đã được xóa án tích.

[9] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[10] Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nh hình phạt; do đó, Hội đồng x t xử áp dụng tình tiết theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nh hình phạt cho bị cáo.

[11] Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nh , không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng x t xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị tuy tố.

[12] X t ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[13] X t ý kiến của bị cáo, bị hại, người làm chứng là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[14] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên Hội đồng x t xử không xem x t.

[15] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) vỏ chai bia nhãn hiệu Sài Gòn đỏ (SÀI GÒN export), là hung khí sử dụng vào việc phạm tội; trả cho Trần Văn N 01 giấy chứng minh nhân dân số 281297537 cấp ngày 31/8/2017 mang tên Trần Văn N do không liên quan đến tội phạm.

[16] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các Điều 47, 48, 54; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136, Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 28/6/2019 đến ngày 15/7/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) vỏ chai bia nhãn hiệu Sài Gòn đỏ (SÀI GÒN export); trả cho Trần Văn N 01 giấy chứng minh nhân dân số 281297537 cấp ngày 31/8/2017 mang tên Trần Văn N.

Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2019.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Văn N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ