vanban.org

Bản án 56/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hiền C được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Hiền C tiếp tục nuôi người con tên Nguyễn Thành M, sinh ngày 15/11/2013. Chị Nguyễn Hiền C không yêu cầu anh Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Hiền C cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Thành T tới lui, thăm nom, chăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hiền C - Nguyễn Thành T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hiền C được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 56/2019/HNGĐ-ST
Ngày 12/8/2019
Về việc“Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Trúc Phƣơng

2. Bà Nguyễn Thị Việt Tím

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 12 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2019/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 34/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hiền C - sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T - sinh năm 1987 (vắng mặt lần 2 không có lý do)

Địa chỉ: ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Nguyễn Hiền C trình bày: Chị Nguyễn Hiền C và anh Nguyễn Thành T quen biết nhau do hai bên gia đình mai mối và tổ chức đám cưới với nhau vào năm 2012, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 02/7/2013.

Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T thường xuyên đi chơi, không có trách nhiệm với vợ con, làm được bao nhiêu tiền thì anh T chơi bời hết, chị C có khuyên nhiều lần, nhưng anh T không thay đổi, mỗi khi vợ chồng cự cãi anh T yêu cầu chị C ly hôn, từ tháng 6/2018 vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Thấy chung sống với nhau không có hạnh phúc nên chị C làm đơn xin ly hôn.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: Nguyễn Thành M, sinh ngày 15/11/2013. Hiện đang sống chung với chị C.

Nay tại Tòa án tôi yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị C yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị C yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án có triệu tập anh Nguyễn Thành T để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng anh Nguyễn Thành T vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy báo phiên tòa hợp lệ nhưng anh Nguyễn Thành T vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt anh Nguyễn Thành T.

Xét thấy anh T chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị C tại Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như: Thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh T vẫn không đến Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T chung sống với nhau được UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/7/2013, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị C là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì vợ chồng anh chị chung sống với nhau thời gian đầu hạnh phúc, đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị C cho rằng do anh T làm được bao nhiêu tiền thì anh T chơi bời hết, không lo cho vợ con, chị C có khuyên nhưng anh T không thay đổi, dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn. Tại phiên tòa, chị C thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Mặt khác, chị C và anh T hai bên đã ly thân từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C được ly hôn với anh T.

Về quan hệ con chung: Chị C và anh T chung sống có 01 người con tên Nguyễn Thành M, sinh ngày 15/11/2013, hiện đang sống với chị C. Xét thấy, hiện nay cháu M đang được chị C nuôi dưỡng, vẫn đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu. Vì vậy, trong phần nghị án Hội đồng xét xử thống nhất giao chị C tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Thành M, chị C có khả năng nuôi con nên không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Chị C xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét. Trường hợp anh T cho rằng có tài sản chung và có tranh chấp, sẽ khởi kiện thành một vụ kiện khác và sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị C phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hiền C được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Hiền C tiếp tục nuôi người con tên Nguyễn Thành M, sinh ngày 15/11/2013. Chị Nguyễn Hiền C không yêu cầu anh Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Hiền C cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Thành T tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

3. Về quan hệ tài sản, nữ trang, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Hiền C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003329 ngày 08/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Nguyễn Thành T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ