- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Hữu T "Chống người thi hành công vụ" - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Hữu T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2018/HS-ST. Ngày: 30/10/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Y Blư.
Ông Nguyễn Văn Thập.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo: Đào Hữu T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 5 năm 1971 tại Bình Định; Nơi ĐKHKTT: Số 10 Đặng D, phường Duy T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum; Chỗ ở hiện nay: Số 132 Hà Huy T, phường Quang T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Thu mua phế liệu; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào N và bà Cao Thị L; có vợ và 03 con; tiền án: 0, tiền sự: 0. Bị cáo đang tại ngoại. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Anh Võ H, sinh năm 1979. (Có mặt).
Địa chỉ: Số 13 Trần Nhật D, phường Quang T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1979. (Có mặt).
Địa chỉ: Số 132 Hà Huy T, phường Quang T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
- Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Văn Hiểu, sinh năm 1996. (Có mặt).
Địa chỉ: Số 132 Hà Huy T, phường Quang T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
2/ Anh Lê Hồng P, sinh năm 1997. (Có mặt).
Địa chỉ: Số 80 Đoàn Thị Đ, phường Quyết T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
3/ Ông Trần Quang P, sinh năm 1966. (Vắng mặt).
Địa chỉ: 70/29 Trần Hưng Đ, phường Quyết T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
4/ Ông Nguyễn Hồ H, sinh năm 1967. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 690 Phan Đình P, phường Quang T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
5/ Ông Lý Minh T, sinh năm 1965. (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Trung Nghĩa Đ, xã K, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cáo trạng số 64/CT-VKSNDTPKT ngày 02/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum thể hiện:
Theo Thông báo số 103/TB-UBND ngày 02/5/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Kon T về kết quả họp thường kỳ tháng 4/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố; Thông báo số 15/TB-PKT ngày 05/5/2018 của Phòng kinh tế, Ủy ban nhân dân thành phố Kon T; Kế hoạch số 125/BC-PKT ngày 05/5/2018 của Phòng kinh tế, Ủy ban nhân dân thành phố Kon T về việc kiểm tra, di dời các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh phế liệu trên địa bàn thành phố…, Phòng kinh tế sẽ phối hợp với các Ủy ban nhân dân phường để kiểm tra, di dời dứt điểm các cơ sở trên.
Thực hiện các Thông báo và Kế hoạch nêu trên, vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 21/5/2018, đoàn liên ngành của Phòng kinh tế thành phố Kon T và Ủy ban nhân dân phường Quang T, thành phố Kon T gồm có: Ông Trần Quang P, ông Nguyễn Hồ H (đều là chuyên viên Phòng kinh tế), ông Lý Minh T và ông Võ H (đều là cán bộ Ủy ban nhân dân phường Quang T) tiến hành kiểm tra cơ sở kinh doanh thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị Thùy T tại số 132 Hà Huy T, phường Quang T, thành phố Kon T. Khi đoàn liên ngành đến kiểm tra thì chị T không có ở cơ sở, chỉ có một số công nhân là anh Nguyễn Văn H, anh Lê Hồng P, M1, M2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang làm việc.
Thấy vậy, ông T liền gọi điện thoại cho chị T và yêu cầu chị T về cơ sở để đoàn kiểm tra làm việc. Do đang bận công việc nên chị T trả lời, nếu cơ sở sai phạm thì đoàn liên ngành cứ lập biên bản cho công nhân của chị T ký chứng kiến; khi nào về, chị T sẽ lên làm việc sau và cam kết với đoàn liên ngành trong vòng 20 ngày nữa sẽ di chuyển cơ sở kinh doanh thu mua phế liệu đi chỗ khác. Ông T thông báo lại nội dung chị T vừa trao đổi cho cả đoàn nghe. Đồng thời, ông T cũng thay mặt đoàn công tác tiến hành lập Biên bản làm việc và Biên bản vi phạm của cơ sở kinh doanh.
Trong lúc đoàn kiểm tra đang tiến hành lập biên bản thì bị cáo Đào Hữu T (chồng chị T) đi về, dùng chân đá vào thau nhôm và nói: “Các ông làm gì ở nhà tôi, sao không kiểm tra các cơ sở khác mà lúc nào cũng kiểm tra ở chỗ tôi”. Nghe vậy, ông H thay mặt đoàn giải thích: “Đây là chủ trương và kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố Kon T, sẽ kiểm tra tất cả các cơ sở kinh doanh thu mua phế liệu chứ không phải chỉ mỗi cơ sở của anh”. Bị cáo T liền nói: “Tôi không vi phạm gì, mời các anh ra khỏi nhà của tôi”. Thấy vậy, ông H lấy điện thoại ra định gọi cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Quang T để xin ý kiến chỉ đạo thì bị cáo T lập tức xông đến giật điện thoại ném xuống đất. Ông H cúi xuống nhặt và nói: “Ông làm gì mà đập điện thoại của tôi?”. Bị cáo T tiếp tục giật điện thoại của ông H ném xuống đất và dùng tay đấm vào mặt ông H. Sau đó, bị cáo T yêu cầu đoàn liên ngành ra khỏi nhà bị cáo. Thấy bị cáo T hung hăng nên các ông P, H và T bỏ đi ra ngoài. Riêng ông H thì bị bị cáo T kéo cổng, khóa lại và nhốt trong sân nhà. Ông T liền gọi điện thoại báo Công an phường Quang T đến giải quyết. Khoảng 05 phút sau, Công an phường Quang T đến nơi và yêu cầu bị cáo T mở cửa. Sau đó, bị cáo T bị Công an phường Quang T đưa về trụ sở để làm việc.
Tại Kết luận định giá số 48/ĐG-TS ngày 31/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố Kon T thể hiện: 01 màn hình của điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 có giá trị là 719.000 đồng (Bảy trăm mười chín nghìn đồng).
Tại Giấy xác nhận ngày 22/5/2018 của Trạm y tế phường Quang T, thành phố Kon T thể hiện: Ông Võ H bị tổn thương phần mềm vùng gò má và mắt bên trái do sang chấn. Ông H không yêu cầu giám định thương tích.
C
64/CT-VKSND
02/10
Đào Hữu T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đào Hữu T như Cáo trạng và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330, các điểm b, i và s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đào Hữu T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách nhân đôi thời gian chấp hành hình phạt. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 21/5/2018, đoàn kiểm tra liên ngành của Phòng kinh tế thành phố Kon T và Ủy ban nhân dân phường Quang T, thành phố Kon T tiến hành kiểm tra cơ sở kinh doanh thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị Thùy T tại số 132 Hà Huy T, phường Quang T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum. Trong quá trình đoàn liên ngành thực hiện nhiệm vụ, bị cáo Đào Hữu T đã có hành vi chống đối, ngăn cản và đuổi thành viên trong đoàn. Bị cáo còn ném điện thoại di dộng, dùng tay đấm vào mặt và khóa cổng, nhốt ông Võ H (thành viên trong đoàn liên ngành) trong sân nhà. Hậu quả gây ra khiến màn hình chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 của ông H bị vỡ; ông H bị tổn thương phần mềm vùng gò má và mắt bên trái do sang chấn.
Như vậy, bị cáo Đào Hữu T đã dùng vũ lực và thủ đoạn khác (la lối, giật, ném vỡ màn hình điện thoại, đuổi, kéo khóa cổng, nhốt cán bộ….) nhằm chống đối, cản trở và đuổi đoàn kiểm tra liên ngành đang thi hành công vụ kiểm tra cơ sở kinh doanh thu mua phế liệu. Hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng số 64/CT-VKSNDTPKT ngày 02/10/2018 của
Đào Hữu T là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước mà đại diện là đoàn kiểm tra liên ngành của Phòng kinh tế thành phố Kon T và Ủy ban nhân dân phường Quang T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Kon Tum. Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử nhằm tuyên truyền pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung đối với tình hình tội phạm hiện nay là cần thiết.
Xét thấy, trước khi phạm tội, bị cáo Đào Hữu T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đồng thời, bị cáo đã tác động chị Nguyễn Thị Thùy T bồi thường cho ông Võ H 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm i, s và b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích trên, thấy rằng, bị cáo Đào Hữu T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đồng thời, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt. Đồng thời, thể hiện sự khoan hồng, tính nhân đạo của pháp luật.
Ngoài ra, trong vụ án này, bị cáo Đào Hữu T có hành vi đập vỡ màn hình điện thoại di động của ông Võ H. Tuy nhiên, mức thiệt hại chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và xét thấy, hành vi này của bị cáo có mục đích là cản trở ông H gọi điện thoại cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường. Do đó, cơ quan CSĐT – Công an thành phố Kon Tum không đưa ra hình thức xử lý là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thùy T đã bồi thường cho ông Võ H 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6. Ông Võ H đã nhận đủ tài sản và không có yêu cầu gì thêm (về tài sản và chấn thương) nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị T cũng không yêu cầu bị cáo hoàn trả đối với việc chị bồi thường dân sự cho ông H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone , màu đồng – trắng, màn hình cảm ứng bị vỡ, có số IMEI 35668008799349, không kiểm tra chất lượng bên trong là tài sản thuộc sở hữu của ông Võ H. Do đó, cần trả lại cho ông H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Đào Hữu T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 330, các điểm b, i và s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Đào Hữu T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Đào Hữu T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/10/2018).
Giao bị cáo Đào Hữu T cho Ủy ban nhân dân phường Quang T, thành phố Kon T, tỉnh Kon Tum để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của Bản án này và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho ông Võ H 01 điện thoại di động Iphone 6, màu đồng – trắng, màn hình cảm ứng bị vỡ, có số IMEI 35668008799349, không kiểm tra chất lượng bên trong (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum).
Về án phí: Căn cứ các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 6, 21 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đào Hữu T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (30/10/2018), bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KonTum; - VKSND TP KonTum; - Cơ quan CSĐT CA TP KonTum; - Chi cục THADS.TP KonTum; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Văn Toàn |