- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 56/2018/HSST Ngày: 23/10/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Giang
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Phát
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Bình - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/ Phan Khắc T (Cu Đen), sinh ngày: 02/9/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; thường trú: 149 Đường Đ, Phường B, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: sống lang thang; nghề nghiệp: Nhân viên rửa xe; trình độ học vấn: 7/12; con ông: Phan Khắc T và bà: Nguyễn Thị H; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 21/6/2012 bị Công an quận S đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trường 3, xã An Thái, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương;
- Ngày 21/8/2014 bị Công an Phường M, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về tội “Trộm cắp tài sản”
- Ngày 08/10/2015 bị Công an Phường C, quận S đưa đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm Đức H, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/03/2018. (Có mặt)
2/ Nguyễn Anh L; sinh ngày: 15/10/1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; thường trú: 140/11/11 Đường V, Phường K, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ thủ công; trình độ học vấn: 10/12; con ông: Nguyễn Văn D và bà: Võ Thị U; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền sự: Không;
Tiền án:
- Ngày 24/6/2011 bị Tòa án nhân dân quận S xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
- Ngày 25/3/2011 bị Tòa án nhân dân quận S xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Nhân thân: Ngày 09/11/2007 bị Công an quận S bắt về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản”. Qua 02 cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đến ngày 21/8/2009 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S đã ra quyết định đình chỉ điều tra.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/02/2018 (Có mặt)
Ngƣời bị hại:
1/ Ông Nguyễn Tuấn Q, sinh năm 1992; địa chỉ: 131 Đường Đ, Phường X, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
2/ Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1953; địa chỉ: 180B Đường T, Phường L, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/02/2018, Phan Khắc T gọi điện rủ Nguyễn Anh L cùng đi cướp giật tài sản để kiếm tiền tiêu xài, L đồng ý. Sau đó L chạy xe máy hiệu Yamaha Luvias BS 64K1-000.32 đến nơi T đang làm nhân viên rửa xe. Tại đây L giao xe cho T, T điều khiển xe chở L đi tìm cơ hội để cướp giật tài sản. Đến khoảng 10 giờ 20 phút, khi cả 2 đi đến trước nhà số 180B Đường T, Phường L, quận N thì thì T nhìn thấy bà Lê Thị Ngọc H đang đứng trước nhà trên tay cầm 01 chiếc bóp màu nâu, T nói “có bà cầm bóp kìa, tao quẹo lại là bụp” thì L trả lời “Ừ”. T liền điều khiển xe chạy qua bà H khoảng 10 mét rồi cho xe quay lại và chạy áp sát người bà H để L ngồi sau dùng tay trái giật lấy chiếc bóp của bà H rồi T tăng ga bỏ chạy theo hướng quẹo phải ra đường Đường T. Bị giật bóp bà H liền truy hô. Lúc này có anh Võ Quang Y là người đi đường nghe thấy liền dùng xe máy của mình đụng vào xe của T và L làm cả hai té ngã, còn chiếc bóp rơi xuống đường. T và L bỏ chạy bộ thì L bị người dân bắt và thu giữ vật chứng là cái bóp (bên trong có 235.000 đồng và 100 USD) cùng phương tiện gây án rồi giao công an xử lý, riêng T trốn thoát.
Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản ngày 18/4/2018 định giá: 100 USD quy đổi bằng 2.280.500 đồng và 01 bóp màu nâu đã qua sử dụng có giá trị 50.000 đồng.
Đối với Phan Khắc T, sau khi chạy thoát T lại tiếp tục có hành vi phạm tội. Cụ thể: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/3/2018, Phan Khắc T đang điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius BS 54R4-6917, khi đến trước đầu hẻm 129A Đường Đ, Phường X, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh thì T phát hiện anh Nguyễn Tuấn Q đứng trong hẻm, tay đang sử dụng điện thoại di động. T liền cho xe vòng lại chạy sát người anh Q và dùng tay trái giật lấy điện thoại của anh Q rồi tăng ga bỏ chạy về phía hẻm 529 đường E. Anh Q liền truy hô thì người dân chặn xe vây bắt làm T té ngã, điện thoại vừa cướp giật được rơi xuống đất. T đứng dậy bỏ xe chạy bộ được một đoạn thì bị bắt, thu giữ vật chứng cùng phương tiện gây án giao công an lập biên bản xử lý.
Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản ngày 18/4/2018 định giá 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S đã qua sử dụng có giá trị 3.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSPN ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Khắc T về tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Anh L về tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và nhân thân của các bị cáo; đã đề nghị xử phạt bị cáo Phan Khắc T và bị cáo Nguyễn Anh L mỗi bị cáo từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù cùng về tội “Cướp giật tài sản”.
Về dân sự: Người bị hại bà Lê Thị Ngọc H và ông Nguyễn Tuấn Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng của vụ án đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Phan Khắc T và Nguyễn Anh L đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận Phú Nhuận, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các văn bản tố tụng có trong hồ sơ vụ án như bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, đều được tiến hành theo đúng quy định; tại các bản khai, biên bản hỏi cung và các tài liệu khác bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng có trong hồ sơ vụ án của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người bị hại là bà Lê Thị Ngọc H và ông Nguyễn Tuấn Q đã được Tòa triệu tập nhưng vắng mặt. Xét, tài sản bị mất đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại, tại cơ quan điều tra người bị hại không có yêu cầu bồi thường nên việc vắng mặt này không làm ảnh hưởng tới việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
. Về nội dung vụ án:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/02/2018, Phan Khắc T điều khiển xe máy chở Nguyễn Anh L đi vòng vòng để cướp giật tài sản, tới trước nhà số 180B Đường T, Phường L, quận N thì thấy chị Lê Thị Ngọc H đang đứng trước nhà, trên tay cầm 01 bóp da nên T quay xe lại áp sát chị H để L dùng tay giật chiếc bóp rồi tăng ga bỏ chạy. Sau đó L bị người dân bắt giữ cùng tang vật và phương tiện gây án còn T chạy thoát.
Sau khi chạy thoát, đến 13 giờ 30 phút ngày 11/3/2018, Phan Khắc T tiếp tục điều khiển xe máy cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S của anh Nguyễn Tuấn Q tại đầu hẻm 129A Đường Đ, Phường X, quận N. Khi T đang bỏ chạy thì bị đuổi theo bắt giữ cùng tang vật và phương tiện gây án.
Qua kiểm tra chiếc bóp da của chị H có giá trị 50.000 đồng, bên trong có 235.000 đồng và 100 USD tương đương 2.280.500 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 5S có giá 3.000.000 đồng.
Về tội danh:
Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã có hành vi dùng xe máy đi cướp giật tài sản của người khác rồi tẩu thoát là đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét bị cáo Phan Khắc T đã dùng xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ để đi cướp giật tài sản có tổng giá trị là 5.565.500 đồng nên cần áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 171 để xét xử bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Anh L đã cùng với bị cáo T dùng xe máy đi cướp giật tài sản có giá trị là 2.565.500 đồng, đồng thời bị cáo đã 02 lần bị xét xử về hành vi cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó cần áp dụng Điểm d, i Khoản 2 Điều 171 để xử phạt bị cáo.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là thanh niên khỏe mạnh nhưng không muốn lao động chân chính mà lại muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng bằng cách chiếm đoạt tài sản của người khác nên cần có một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, các bị cáo đều có nhân thân xấu, phạm tội nhiều lần nhưng các bị cáo không ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội là thể hiện thái độ xem thường pháp luật nên cần phải xử phạt các bị cáo một hình phạt thật nghiêm khắc. Bị cáo Phan Khắc T sau khi phạm tội cùng bị cáo L chạy thoát lại tiếp tục một mình thực hiện hành vi cướp giật, mỗi lần phạm tội đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cần áp dụng Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T.
Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét xét: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản phạm tội đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên áp dụng Điểm s, h Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về dân sự:
Do tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về việc xử lý vật chứng của vụ án:
01 biển số xe mang số 64K1 – 00032 không có giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy.
Về án phí:
Bị cáo Phan Khắc T và bị cáo Nguyễn Anh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Phan Khắc T và bị cáo Nguyễn Anh L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Phan Khắc T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2018.
2.2. Áp dụng Điểm d, i Khoản 1 Điều 171; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2018.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy một (01) biển số xe 64K1 – 00032.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2018 tại Chi cục Thi hành án quận Phú Nhuận)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phan Khắc T và bị cáo Nguyễn Anh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về các vấn đề khác: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Nôi nhaän:
| - Sôû Tö phaùp TP.HCM; - TAND TP.HCM; - VKSND Q.Phú nhuận; - Công an Q. Phú nhuận, PC.53; - Chi cục THADS Phú nhuận; - Các bị cáo, trại giam; - Người tham gia tố tụng; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hƣơng Giang |