vanban.org

Bản án 56/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 16/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 1.

Hủy Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số số 13/L-CQCSĐT ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Hủy Lệnh kê biên tài sản số 01/L-CQCSĐT ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện B tỉnh Tây Ninh đối với phần đất diện tích 500 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H - phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (điều 189 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 1.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2018/HS-ST
Ngày 16-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc An.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Tảo;

2. Ông Trần Văn Dân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nguyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh năm 1979 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nhân viên công ty Trách nhiệm hữu hạn A; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Thu B; có vợ là Hoàng Thị Thúy T và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Bị cáo Nguyễn Thanh H đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2018 cho đến nay tại xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

1. Ông Nguyễn Kiều H1 - Luật sư Văn Phòng luật sư C, vắng mặt.

2. Ông Trần Đăng S - Luật sư Văn Phòng luật sư C, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Chị Hoàng Thị Thúy T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/01/2018, Nguyễn Thanh H nhận 96.890.000 Riel và 14.790 USD của Công ty trách nhiệm hữu hạn A có trụ sở tại Vương Quốc Campuchia để vận chuyển về Việt Nam theo sự ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn B. Đến ngày 27/01/2018, Nguyễn Thanh H mang theo số tiền này và nhập cảnh qua Cửa khẩu quốc tế X thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, Nguyễn Thanh H thuê ông Lý Văn T1, sinh năm 1976 ngụ ấp Đ, ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh là người chạy xe ôm, để vận chuyển túi xách của Nguyễn Thanh H từ Campuchia vào Việt Nam nhưng Nguyễn Thanh H không nói bên trong túi xách có tiền. Lúc này, ông T1 điều khiển xe mô tô đi qua khu vực kiểm soát của Chi cục Hải quan Cửa khẩu X thì bị cán bộ Hải quan yêu cầu đưa túi xách vào máy soi để kiểm tra và phát hiện bên trong túi xách có 96.890.000 Riel, 14.790 USD nên bị Chi cục Hải quan Cửa khẩu X lập biên bản vi phạm hành chính vào lúc 10 giờ 30 phút cùng ngày. Đồng thời, Chi cục Hải quan Cửa khẩu X đã hoàn trả cho Nguyễn Thanh H 5.000 USD.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh H đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các tình tiết khác:

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thanh H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Các tình tiết khác trong vụ án: Cha ruột của Nguyễn Thanh H là ông Nguyễn Văn L được tặng Huân chương lao động hạng ba; ông nội Lê Văn M được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng, tài sản:

- Tiền Campuchia 96.890.000 Riel;

- Tiền Đô la Mỹ 9.790 USD.

- 01 (một túi xách màu nâu) đã qua sử dụng.

* Kết quả định giá tài sản:

Tại Công văn số 161/TNI-TH,NS&KSNB ngày 23/02/2018 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tây Ninh cung cấp tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Đô la Mỹ, Riel Campuchia từ ngày 26/01/2018 đến 27/01/2018 là:

+ 01 Đô la Mỹ quy đổi bằng 22.416 đồng

+ 01 Riel Campuchia quy đổi bằng 5.58 đồng.

* Kết quả giám định:

- Tại bản giám định tiền ngày 29/01/2018 của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện B, tỉnh Tây Ninh xác định: 100 tờ đô la Mỹ (97 tờ giá 100 USD, 01 tờ mệnh giá 50USD, 02 tờ mệnh giá 20USD) là tiền thật.

- Kết luận giám định số 912/C54B ngày 09/02/2018 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Tổng cục Cảnh sát kết luận:

+ 3000 (ba ngàn) tờ tiền Riel Campuchia, mệnh giá 20.000 cần giám định là tiền thật;

+ 689 (sáu trăm tám mươi chín) tờ tiền Riel Campuchia, mệnh giá 10.000 cần giám định là tiền thật;

+ 02 (hai) tờ tiền Riel Campuchia, mệnh giá 100.000 cần giám định, số seri 1259347 và 0674387 là tiền thật;

- Kết luận giám định số 1081/C54B ngày 02/3/2018 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Tổng cục Cảnh sát kết luận: 298 (hai trăm chín mươi tám) tờ tiền Riel Campuchia, mệnh giá 100.000, năm sản xuất 2012 là tiền thật.

* Xác định tỷ giá ngoại tệ:

- Công văn số 864/TNI-TH,NS&KSNB ngày 04/12/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Tây Ninh cung cấp tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Đô la Mỹ, Kíp Lào ngày 16/11/2017 là:

+ 01 Đô la Mỹ quy đổi bằng 22.449 đồng;

+ 01 Kíp Lào quy đổi bằng 2,71 đồng.

- Biên bản giám định tiền ngày 06/6/2018 của Ngân hàng Nông nhiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện B cung cấp: 05 (năm) tờ tiền có cùng mệnh giá loại 10 USD là tiền thật, quy đổi là loại 10 USD: 05 tờ x 22.860 đồng quy thành tiền VND là 1.143.000 đồng (thời điểm 06/6/2018).

* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 07/9/2018, Công ty B có công văn số 04/2018/CV-SMBM gửi Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh với nội dung Công ty không yêu cầu giải quyết trách nhiệm dân sự liên quan đến số tiền H vận chuyển bị tạm giữ ngày 27/01/2018, giữa Công ty và Nguyễn Thanh H sẽ tự thỏa thuận.

* Kết quả kê biên tài sản: Ngày 05/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh đã kê biên 01 quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 500m2, thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Bình theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP190495 cấp ngày 06/8/2013 do Nguyễn Thanh H đứng tên.

Đối với Lý Văn T1 không biết trong túi xách của Nguyễn Thanh H có ngoại tệ vượt mức quy định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1 không đề nghị xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 54/QĐ/KSĐT, ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B1, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo khoản 3 Điều 189 ộ luật Hình s .

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh H như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 189; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H: Từ 1.000.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng vụ án theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thanh H thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị Thúy T trình bày: Chị và bị cáo H chỉ có phần đất diện tích 500 m2 thuộc thửa 14, tờ bản đồ số 01, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 190495 do UBND huyện C, tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/8/2013 do Nguyễn Thanh H đứng tên và căn nhà là tài sản duy nhất của vợ chồng. Do vậy yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét.

Ý kiến tranh luận của người bào chữa: Bị cáo không có ý thức phạm tội mà chỉ làm việc theo mệnh lệnh của cấp trên. Bị cáo không có chuyên môn nghiệp vụ kế toán về hải quan, vô ý khi làm tròn nghĩa vụ mang tiền về. Bị cáo chưa kịp kê khai hải quan thì đã bắt. Hai công ty cũng có lỗi là không hướng dẫn bị cáo thực hiện thủ tục kê khai, nhận thức của bị cáo bị hạn chế. Bị cáo không có ý thức phạm tội, hải quan lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính chứng tỏ đây là vụ việc hành chính.

Bị cáo không có tư lợi. Bị cáo và vợ chỉ có mảnh đất đang ở nhưng bị kê biên nên cần giải tỏa.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã nộp tiền để đảm bảo thi hành án nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới khung theo khoản 2 Điều 189 Bộ luật hình sự. Theo khoản 2 Điều 189 Bộ luật hình sự thì thuộc loại tội nghiêm trọng và lỗi vô ý nên cần miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự.

Đại diện viện kiểm sát tranh luận: Bị cáo có lỗi cố ý thể hiện như luận tội đã phân tích.

Điều 54 Bộ luật hình sự là điều luật mở, không bắt buộc phải áp dụng mặc dù bị cáo có đủ điều kiện. Điều luật này chỉ có ý nghĩa khi quyết định hình phạt, giảm nhẹ mức hình phạt còn bị cáo cũng vẫn phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định tại khoản 3 Điều 189 Bộ luật hình sự. Do bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý nên không đủ điều kiện áp dụng khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

+ Bị cáo không có nghiệp vụ kế toán không có nghĩa là được phép làm trái các quy định. Tất cả mọi người qua cửa khẩu hàng ngày thuộc mọi trình độ, sự hiểu biết không giống nhau nhưng đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong đó có quy định phải kê khai tiền vượt quá quy định cho phép nhưng bị cáo đã không kê khai theo quy định.

+ Vụ việc ban đầu được Hải quan phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính nhưng qua quá trình kiểm tra xác minh cho thấy có dấu hiệu hình sự nên Hải quan đã ban hành quyết định chuyển vụ việc vi phạm hành chính sang giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự là hoàn toàn phù hợp, không sai, bị cáo chưa bị xử phạt hành chính. Hành vi của bị cáo bị xử lý hình sự là đúng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Thanh H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào ngày 27/01/2018, Nguyễn Thanh H đã vận chuyển 96.890.000 Riel (tương đương 540.646.200 Việt Nam đồng) và 9.790 USD (tương đương 219.452.640 Việt Nam đồng) qua Cửa khẩu Quốc tế X thuộc ấp ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh nhưng không làm thủ tục khai báo với Chi cục Hải quan Cửa khẩu Xa Mát theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thanh H vận chuyển trái phép qua biên giới có giá trị là 760.098.840 đồng, do đó tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh H được quy định tại khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 54/QĐ/KSĐT, ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo quy định tại khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chính sách quản lý tiền tệ của Nhà nước, đe dọa đến sự phát triển nền kinh tế của đất nước. Do đó, cần xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thanh H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha ruột của bị cáo là ông Nguyễn Văn L được tặng Huân chương lao động hạng ba; ông nội Lê Văn M được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Ngày 07/11/2018 và ngày 16/11/2018 bị cáo Nguyễn Thanh H có đơn xin được hưởng hình phạt tiền và đã tự nguyện nộp 1.100.000.000 (một tỷ, một trăm triệu) đồng để đảm bảo cho việc thi hành án.

Xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội trong lĩnh vực kinh tế và đã tự nguyện nộp một số tiền lớn để bảo đảm việc thi hành án do vậy xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Xử lý vật chứng:

Các tài sản là vật chứng vụ án có giá trị sử dụng cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước gồm:

- Tiền Campuchia 96.890.000 Riel;

- Tiền Đô la Mỹ 9.790 USD.

Đối với vật chứng là 01 (một) túi xách màu nâu đã qua sử dụng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Lệnh kê biên tài sản số 01/L-CQCSĐT ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện B tỉnh Tây Ninh đối với phần đất diện tích 500 m2 thuộc thửa 14, tờ bản đồ số 01, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 190495 do UBND huyện C tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/8/2013 do Nguyễn Thanh H đứng tên. Do bị cáo đã nộp đủ số tiền phạt vì vậy cần hủy Lệnh trên.

Đối với Lý Văn T1 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công án huyện B không đề nghị xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 1.100.000.000 (một tỷ, một trăm triệu) đồng về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”, khấu trừ số tiền tạm nộp 1.100.000.000 (một tỷ, một trăm triệu) đồng theo biên lai thu số 0001327 ngày 07/11/2018 và số 0001329 ngày 16/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bị cáo H đã nộp phạt xong.

Hủy Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số số 13/L-CQCSĐT ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Hủy Lệnh kê biên tài sản số 01/L-CQCSĐT ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện B tỉnh Tây Ninh đối với phần đất diện tích 500 m2 thuộc thửa 14, tờ bản đồ số 01, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 190495 do UBND huyện C tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/8/2013 do Nguyễn Thanh H đứng tên.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

Tiền Campuchia 96.890.000 Riel và tiền Đô la Mỹ 9.790 USD.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi xách màu nâu.

3. Về án phí:

Căn cứ các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ