- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Quới trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!HỚN!QUẢN! TỈNH!BÌNH!PHƯỚC! Bản án số: 56/2018/HS-ST Ngày 07 tháng 8 năm 2018 |
!
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!HỚN!QUẢN,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhum
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Công Tài
2. Bà Đặng Thị Kim Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2018/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn!Văn!Q (tên gọi khác: T, Nguyễn Minh T), sinh năm 1986 tại Đồng Tháp; đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp BH, xã BT, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 4/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1957 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1958; bị cáo có 04 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1980 và nhỏ nhất sinh năm 1989, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo không có vợ và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự không; nhân thân: ngày 03/02/1999 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 28/11/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 07/02/2006 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi đánh nhau gây mất trật tự; ngày 29/8/2007 bị Công an huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang khởi tố, truy nã về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Cấn Thị H, sinh năm 1982 (có mặt)
Trú tại: Tổ 3, ấp 1, xã ML, huyện CT, tỉnh Bình Phước
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Trú tại: Ấp TA, xã ĐT, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long
2. Cấn Xuân T, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Trú tại: Tổ 3, ấp SL, xã PA, huyện HQ, tỉnh Bình Phước
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết từ trước, vào khoảng 11 giờ ngày 10/3/2008, Nguyễn Văn Q và Lê Ngọc M đến tiệm tóc của chị Cấn Thị H rủ chị H cùng chị Nguyễn Thị Ngọc G về nhà M ăn cháo gà. Sau khi ăn xong, Q rủ cả nhóm đi hát karaoke tại quán Phượng Hồng thuộc ấp Long Bình, xã Tân Quan, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Khi đi, G chở H bằng xe mô tô Yamaha nhãn hiệu Nouvo màu đen biển số 93H8-9884 của chị H, M chở Q bằng xe mô tô hiệu Wave của M. Khi đến nơi, cả nhóm vào phòng số 1 để hát và uống bia, trong lúc hát chị G làm rơi chìa khóa xe Novou xuống nền, Q nhìn thấy nhặt lên và nói với chị G: “để anh giữ giùm cho”, chị G đồng ý thì Q bỏ chìa khóa vào túi áo. Tiếp tục hát được khoảng 15 phút thì Q đi thanh toán tiền. Do không đủ tiền nên Q nói chủ quán “Chị cứ để cho tụi nó hát đi, em về nhà lấy tiền trả” rồi lấy xe mô tô Novou điều khiển về nhà trọ tại xã Phước An. Khi gặp chị Nguyễn Thị T là người sống chung như vợ chồng với mình, Quới nói “ở đây không kiếm được việc làm, đi chỗ khác” thì chị T đồng ý và chị T hỏi xe ở đâu thì Q nói mượn của bạn rồi chở chị T về ấp Bàu Cỏ, xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Q để chị T ở lại đây và tiếp tục điều khiển xe đến xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long nhờ bạn tên Lê Hồng D chỉ chổ cầm xe. Thông qua D, Q cầm xe cho bà Nguyễn Thị Bé S lấy 8.000.000 đồng về thành phố Hồ Chí Minh tiêu xài rồi nhắn tin báo cho chị H biết chỗ cầm xe và bỏ trốn đến ngày 27/3/2018 thì bị bắt giữ.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm:
- 01 xe môt tô Yamaha hiệu Novou biển số 93H8-9884, số khung B5206Y115236, số máy 2B52115236 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0045117.
- 01 xe mô tô Honda hiệu Future biển số 69B1-138.57, số máy 156606, số khung 056045 màu đỏ đen, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 019218 của Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 03/11/2016 và 01 chứng minh nhân dân số 381250486 mang tên Nguyễn Huy Xuân.
Tại Công văn số 56/ĐG-TC-KH ngày 30/5/2008 và Bản kết luận định giá tài sản số 104/KL-HĐĐGTSTTTHS ngày 09/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hớn Quản kết luận giá trị của chiếc xe mô tô Yamaha nhãn hiệu Nouvo biển số 93H8-9884, số máy 115236, số khung B5206Y115236 là 20.825.000 đồng (hai mươi triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 26/CT-VKS-HQ ngày 12/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa,
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất bồi thường số tiền 8.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Bé S và xin giảm nhẹ hình phạt;
- Bị hại Cấn Thị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 7.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Kiểm sát viên khẳng định việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đối với bị cáo Nguyễn Văn Q là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo từ 26 đến 30 tháng tù.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hớn Quản, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Vào khoảng 14 giờ ngày 20/3/2008, lợi dụng lúc hát karaoke nhặt được chìa khóa xe máy của chị Cấn Thị H và trong lúc mọi người đang hát karaoke, bị cáo Nguyễn Văn Q đã chiếm đoạt chiếc xe máy Yamaha hiệu Novou biển số 93H8-9884, số khung B5206Y115236, số máy 2B52115236 trị giá 20.825.000 đồng của chị Cấn Thị H mang đến xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long cầm cố cho bà Nguyễn Thị Bé S lấy 8.000.0000 đồng tiêu xài rồi bỏ trốn.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, chị Cấn Thị H cho rằng bị cáo ngoài chiếm đoạt chiếc xe mô tô còn chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng cùng một chiếc điện thoại di động của chị H để trong cốp xe, nhưng chị H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ và cơ quan điều tra cũng không chứng minh được bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng cùng một điện thoại di động như chị H trình bày nên Viện kiểm sát không truy tố.
Cáo trạng số 26/CT-VKS-HQ ngày 12/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Tuy nhiên, hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung – sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) nhẹ hơn hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung – sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999) và điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 16/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 quy định: “các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 00 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích”. Do đó, quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, cũng như ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người thành niên, có đủ sức khỏe để lao động nuôi sống bản thân, gia đình và làm điều có ích cho xã hội nhưng bị cáo lại lợi dụng sự thiếu cảnh giác đề phòng của bạn bè để chiếm đoạt tài sản của họ một cách cố ý. Sau khi phạm tội bị cáo trốn tránh và bản thân bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể bị cáo đã từng bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi trộm cắp tài sản và đánh nhau gây mất trật tự; bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 28/11/2003; bị Công an huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang khởi tố, truy nã về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày 28/6/2007; trong thời gian lẫn trốn bị cáo tiếp tục chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Future biển số 69B1-138.57 của anh Nguyễn Huy X. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét khi áp dụng hình phạt.
Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô Honda hiệu Future biển số 69B1-138.57 của anh Nguyễn Huy X được thực hiện trên địa bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi phát hiện, Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã thông báo và chuyển vật chứng liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân để xử lý theo thẩm quyền nhưng Công an quận Bình Tân đang tiến hành xác minh, chưa khởi tố vụ án trong khi thời hạn điều tra, truy tố đối với bị cáo đã hết nên sẽ được tách ra, xử lý theo quy định của pháp luật.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Bé S yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 8.000.000 đồng cầm xe mà không yêu cầu gì thêm, bị cáo thống nhất trả cho bà S số tiền trên nên được ghi nhận.
Chị Cấn Thị H xác định bị cáo ngoài chiếm đoạt chiếc xe Novou còn chiếm đoạt 01 điện thoại di động cùng 7.000.000 đồng nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh và tại phiên tòa chị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô Yamaha hiệu Novou biển số 93H8-9884, số khung B5206Y115236, số máy 2B52115236 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0045117 là tài sản của anh Cấn Xuân T, trong quá trình điều tra Công an huyện Chơn Thành đã trả lại cho anh T; 01 xe mô tô Honda hiệu Future màu đỏ đen biển số 69B1-138.57, số máy 156606, số khung 056045; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 019218 của Công an tỉnh Cà Mau cấp ngày 03/11/2016 và 01 chứng minh nhân dân số 381250486 mang tên Nguyễn Huy X đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Nguyễn Minh T, T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2]. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ tạm giữ (từ ngày 27/3/2018).
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 4 của Bộ luật Dân sự năm 2005,
Bị cáo Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bé S số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[4]. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch.
[5]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo Nguyễn Văn Q, bị hại Cấn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cấn Xuân T và Nguyễn Thị Bé S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết. Nơi!nhận:!
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- TAND tỉnh Bình Phước;
Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!
- VKSND tỉnh Bình Phước;
- VKSND huyện Hớn Quản;
!
- Công an huyện Hớn Quản;
!
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
!
- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
!
- Bị cáo; bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
!
- Lưu: TA, HSVA.
!
Trần!Văn!Nhum!