vanban.org

Bản án 56/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 13/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y S phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt: Bị cáo Y S 04(bốn) tháng 12 (mười hai) ngày tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày 08/5/2018 đến ngày 20/9/2018. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc thỏa thuận giữa bị cáo Y S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh YPle bồi thường cho nguyên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y S - phạm tội hủy hoại rừng (điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y S phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
C
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 56/2018/HS-ST
Ngày 13-11-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Phương

Ông Nguyễn Đức Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Luân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Song,tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2018/QĐXXST-HS ngày 01/11/2018 đối với bị cáo:

Y S - sinh năm: 1994 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Bon R, xã ĐM, huyện ĐS, tỉnh ĐN; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: M’Nông; trình độ văn hóa: 06/12; tôn giáo: Tin lành; con ông Y P và bà H; chưa có vợ, con: Bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2018 đến ngày 20/9/2018 được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại - có mặt

- Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đ

Có trụ sở tại: Thôn 3 RL, xã ĐH, huyện ĐS, tỉnh ĐN

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn dân sự: Ông Lê Văn H – Chức vụ: Phó giám đốc phụ trách công ty – có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Y Pl - có mặt.

Bon JR, xã ĐắM, huyện ĐS, tỉnh ĐN

2. Anh Y N - có mặt

Trú tại: Bon R, xã ĐM, huyện ĐS, tỉnh ĐN.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Y T – vắng mặt

Trú tại: Bon R, xã ĐM, huyện ĐS, tỉnh ĐN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2015 đến khoảng đầu năm 2018 các đối tượng Y S, sinh năm 1994, Y T, sinh năm 1996, Y N (tên gọi khác: Ma Quân), sinh năm 1978, cùng trú tại Bon R, xã ĐM, huyện ĐS, tỉnh ĐN, tỉnh Đắk Nông, Y PL, sinh năm 1995, trú tại bon JaRy, xã Đắk Mol, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã thực hiện các vụ hủy hoại rừng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào cuối năm 2015, Y S và Y PL phát hiện 01 khu rừng thuộc lô 41, khoảnh 3, tiểu khu 1112 do Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (TNHH MTV) lâm nghiệp ĐH quản lý nên Y S và Y PL đã thống nhất với nhau cùng hủy hoại đám rừng này để lấy đất trồng hoa màu. Y S chuẩn bị 01 cưa xăng (theo lời khai có đặc điểm màu đỏ trắng, lam cưa dài 60 cm); 01 dao phát (theo lời khai có đặc điểm mũi dao bằng kim loại dài 30 cm, cán bằng tre); 01 chai nhớt, 01 can xăng 05 lít làm công cụ dùng cho việc hủy hoại rừng. Đến khoảng 01 giờ sáng (không rõ ngày tháng) cuối năm 2015, Y S cùng Y PL cùng nhau đến khu rừng trên để tiến hành hủy hoại rừng. Trong đó, Y PL sử dụng cưa xăng để cưa hạ những cây có đường kính từ 05 cm đến 50 cm, Y S sử dụng dao phát để phát dọn cây có đường kính dưới 05cm. Khi Y PL mệt thì Y S lại cầm cưa để tiếp tục cưa hạ cây rừng, Y S và Y PL cưa hạ từ dưới khe cạn đi lên trên đỉnh đồi giáp với đường đất. Việc hủy hoại rừng được thực hiện đến khoảng 03 giờ sáng cùng ngày, khi đã cưa hạ được diện tích rừng là 2.691m2 thì Y S và Y PL nghỉ. Khoảng tháng 3 năm 2016 (không rõ ngày), Y S và Y PL vào đốt dọn diện tích rừng đã cưa hạ và chia thành 02 diện tích đất để trồng cây công nghiệp, Y S đào hố trồng được khoảng 180 cây cà phê, còn Y PL đào hố trồng được 130 trụ tiêu.

Đến khoảng cuối tháng 11 năm 2016 (không rõ ngày), do Y PL nợ Y N số tiền 60.000.000 đồng nên Y PL đã gán nợ diện tích rừng đã hủy hoại được chia để trồng tiêu nói trên cho Y N.

Lần thứ hai: Đến khoảng tháng 2 năm 2017 (không rõ ngày), Y S thuê Y T với giá 200.000đồng/ngày, để Y T cùng Y S dùng 01 cưa xăng (theo lời khai có đặc điểm màu đỏ trắng, lam cưa dài 60 cm) của Y S, 01 chai nhớt, 01 can xăng 03 lít để hủy hoại rừng, tiếp giáp diện tích rừng mà Y S và Y PL đã hủy hoại vào cuối năm 2015, thuộc lô 41, khoảnh 3, tiểu khu 1112 do công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH quản lý để mở rộng diện tích, Y S là người sử dụng cưa xăng để cưa hạ cây rừng có đường kính từ 05 cm đến 50 cm, còn Y T phụ châm xăng, nhớt, thời gian hủy hoại rừng từ khoảng 23 giờ đêm đến 01 giờ sáng cùng ngày, khi đã cưa hạ được diện tích rừng là 1.535 m2 thì Y S, Y T nghỉ, do chưa có tiền nên Y S chưa trả tiền công cho Y T.

Lần thứ ba: Trong thời gian từ tháng 03/2017 đến tháng 06/2017 (không rõ ngày), khoảng 17 giờ chiều mỗi ngày, Y S tiếp tục dùng cưa xăng (theo lời khai có đặc điểm màu đỏ trắng, lam cưa dài 60 cm) hủy hoại rừng, tiếp giáp diện tích rừng mà Y S, Y T đã hủy hoại vào khoảng tháng 2/ 2017, thuộc lô 41, khoảnh 3, tiểu khu 1112 do công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH quản lý để mở rộng diện tích. Y S đã dùng cưa xăng cưa hạ cây rừng có đường kính từ 10 cm đến 50 cm được diện tích 1.441m2, Còn Y PL sử dụng cưa xăng (theo lời khai có đặc điểm loại cưa STH Trung Quốc, lam cưa dài 50 cm) cưa hạ cây rừng tiếp giáp diện tích rừng mà Y S, Y PL đã hủy hoại vào khoảng cuối năm 2015, thuộc lô 41, khoảnh 3, tiểu khu 1112 do công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH quản lý để mở rộng diện tích, Y PL đã dùng cưa xăng cưa hạ cây rừng có đường kính từ 10 cm đến 50 cm được diện tích 951 m2.

Đến ngày 19/5/2017, Y S đã bán lại diện tích rừng đã hủy hoại khoảng 6000m2 cho anh Y N với giá 75.000.000 đồng.

Lần thứ tư: Vào đầu năm 2018 (không rõ ngày tháng), Y N sử dụng 01 cưa tay (theo lời khai có đặc điểm cán bằng gỗ, lưỡi cưa bằng kim loại dài 40 cm), 01 dao phát (theo lời khai có đặc điểm mũi dao bằng kim loại dài khoảng 20 cm, cán bằng tre), hủy hoại rừng thuộc lô 41, khoảnh 3, tiểu khu 1112 do công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH quản lý, tiếp giáp với diện tích rừng đã bị hủy hoại để trồng tiêu mà Y N đã mua lại của Y PL, Y N đã dùng cưa tay cưa hạ cây rừng, cây to nhất có đường kính 30 cm, các cây còn lại có đường kính trung bình là 20 cm, thời gian huỷ hoại rừng từ 7 giờ đến 12 giờ trưa, từ 13 giờ đến16 giờ được diện tích 1.149 m2

Hành vi phạm tội của Y S sau đó đã bị cơ quan chức năng phát hiện, điều tra, làm rõ. Kết quả khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra đã xác định diện tích rừng bị Y S hủy hoại là 5.667m2 thuộc khoảnh 3 lô 41 tiểu khu 1112 thuộc Lâm phần của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đắk Hòa, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

Ngày 06/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định trưng cầu giám định xác định thiệt hại về lâm sản và thiệt hại về môi trường đối với các diện tích rừng bị hủy hoại 5667m2 đã hủy hoại.

Tại bản kết luận giám định số 04/KL-GĐ ngày 19/03/2018, của giám định viên tư pháp thuộc Hạt kiểm lâm huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông kết luận: Diện tích rừng mà Y S trực tiếp hủy hoại là 5667m2 trong đó:

Y S cùng Y PL hủy hoại rừng với diện tích 2.691m2, đây là rừng sản xuất (rừng tự nhiên) có mức thiệt hại là 100% (toàn bộ cây rừng bị chặt, hạ, đốt dọn chỉ còn lại gốc cây), thiệt hại về trữ lượng gỗ là 32,304m3 thiệt hại về lâm sản và môi trường là 39.450.477 đồng.

Y S cùng Y T hủy hoại với diện tích 1.535m2, đây là rừng sản xuất (rừng tự nhiên), có mức thiệt hại là 100% (toàn bộ cây rừng bị chặt, hạ, đốt dọn chỉ còn lại gốc cây), thiệt hại về trữ lượng gỗ là18,427m3 thiệt hại về lâm sản và môi trường là 22.503.338 đồng.

Y S trực tiếp hủy hoại rừng trong thời gian từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2017 với diện tích rừng là 1.441m2, đây là rừng sản xuất (rừng tự nhiên), có mức thiệt hại là 100% (toàn bộ cây rừng bị chặt, hạ, đốt dọn chỉ còn lại gốc cây), thiệt hại về trữ lượng gỗ là 17.299m3 thiệt hại về lâm sản và môi trường là 21.125.283 đồng (BL 29-32).

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 03/07/2018 (BL 38) và Bản kết luận giám định số 39/KL-GĐ ngày 09/7/2018 của giám định viên tư pháp thuộc Hạt kiểm lâm huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông kết luận: Diện tích rừng mà Y N hủy hoại là 1.149m2, thuộc khoảnh 3 lô 41 tiểu khu 1112 thuộc lâm phần của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH thuộc địa giới hành chính xã Đắk Hòa, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông quản lý. Đây là rừng sản xuất (rừng tự nhiên) có mức thiệt hại là 100% (toàn bộ cây rừng bị chặt, hạ, đốt dọn chỉ còn lại gốc cây), thiệt hại về trữ lượng gỗ là 11,434m3 thiệt hại về lâm sản và môi trường là 9.059.620 đồng; diện tích rừng mà Y PL mở rộng là 951m2, đây là rừng sản xuất (rừng tự nhiên) có mức thiệt hại là 100% (toàn bộ cây rừng bị chặt, hạ, đốt dọn chỉ còn lại gốc cây), thiệt hại về trữ lượng gỗ là 9,371 m3 thiệt hại về lâm sản và môi trường là bảy 7.427.841 đồng.

Ngày 16/4/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm gian đối với Y S về tội Hủy hoại rừng theo quy định tại Điều 189 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999.

Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 15/10/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Y S về tội “Hủy hoại rừng” theo khoản 1 Điều 189 BLHS năm 1999.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Y S về tội “Hủy hoại rừng” theo khoản 1 Điều 189 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 189 BLHS năm 1999, điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 BLHS năm 1999 xử phạt bị cáo Y S từ 04 đến 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 điều 42 BLHS, Điều 584; Điều 585; Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự (BLDS): Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đức Hòa đã có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường và lâm sản số tiền là 83.079.098 đồng trong đó; đối với diện tích rừng mà các đối tượng Y S, Y PL hủy hoại là 2691m2 là 39.450.477 đồng; đối với diện tích rừng do Y S và Y T hủy hoại là 1535m2 là 22.503.338 đồng và diện tích rừng do Y S trực tiếp hủy hoại là 1441m2 là 21.125.283 đồng. Tại phiên tòa thì giữa nguyên đơn dân sự Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH và bị cáo Y S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Y PL đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại theo đó bị cáo Y S đồng ý bồi thường cho nguyên đơn dân sự số tiền 63.354.000đồng, bị cáo đã bồi thường số tiền 2.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả để nguyên đơn dân sự trồng lại rừng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song theo biên lai số 002919 ngày 05/11/2018, bị cáo phải bồi thường thiệt hại về lâm sản và môi trường cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH số tiền còn lại là 61.354.000đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh YPle bồi thường 19.725.000 đồng để Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH trồng và tái tạo rừng trên diện tích bị hủy hoại. Việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên đề nghị HĐXX chấp nhận việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh YPle và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH.

Áp dụng khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự để tính lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm thi hành án.

Đối với diện tích 951m2 mà Y PL hủy hoại thiệt hại về lâm sản và môi trường là 7.427.841 đồng và diện tích rừng 1149m2 do Y N hủy hoại thiệt hại về lâm sản và môi trường là 9.059.620đồng. Do Y PL, Y N chỉ bị xử phạt hành chính do đó Công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH rút yêu cầu bồi thường.

Về vật chứng vụ án: 01 cưa xăng (theo lời khai có đặc điểm màu đỏ trắng, lam cưa dài 60 cm); 01 dao phát (theo lời khai có đặc điểm mũi dao bằng kim loại dài 30 cm, cán bằng tre); 01 quẹt ga mà Y S đã sử dụng để hủy hoại rừng; 01 cưa tay (theo lời khai có đặc điểm cán bằng gỗ, lưỡi cưa bằng kim loại dài 40 cm), 01 dao phát (theo lời khai có đặc điểm mũi dao bằng kim loại dài khoảng 20 cm, cán bằng tre mà Y N dùng để hủy hoại rừng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã phối hợp với các lực lượng chức năng truy tìm nhưng không có kết quả nên không đề cập xử lý.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 75.000.000 đồng mà Y S có được do phạm tội mà có.

Đối với hành vi hủy hoại rừng với diện tích 3.642m2 của Y PL, hành vi hủy hoại rừng với diện tích 1.535m2 của Y T và hành vi hủy hoại rừng với diện tích 1.149m2 của Y N, do không đủ yếu tố cấu thành tội Hủy hoại rừng quy định tại điều 189 BLHS năm 1999 mà vi phạm điểm b khoản 5 Điều 20 Nghị định số 157/NĐ-CP ngày 11/11/2013 nên ngày 25/9/2018, Công an huyện Đắk Song đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 15.000.000 đồng đối với Y N (tên gọi khác: Ma Quân) và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 15.000.000 đồng đối với Y T (BL 159,160). Đối với Y PL, do vượt quá thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nên ngày 24 tháng 9 năm 2018, Công an huyện Đăk Song đã làm tờ trình đề nghị chủ tịch UBND huyện Đắk Song xử lý Y PL theo quy định của pháp luật.

Đối với diện tích rừng bị hủy hoại 5667m2 hiện nay anh Y N đang sử dụng có nguồn gốc mua bất hợp pháp của Y S và Y PL nên anh Y N phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH để trồng và tái tạo rừng khi có yêu cầu.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Y S không bào chữa do hành vi phạm của mình gây ra mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ lien quan không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Y S đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Trong khoảng cuối năm 2015 đến năm 2018, Y S cùng Yple, Y T, Y N đã có hành vi sử dụng 01 cưa xăng, 01 dao phát hủy hoại rừng tại lô 41 khoảnh 3 tiểu khu 1112 thuộc lâm phần của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đắk Hòa, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông với diện tích 5.667 m2, (trong đó Y S hủy hoại 5.667 m2, Yple hủy hoại 3.642m2, Y T hủy hoại rừng với diện tích 1.535m2, Y N hủy hoại rừng với diện tích 1.149m2) có giá trị thiệt hại về lâm sản và môi trường là 83.079.098 đồng, sau đó Y S đã bán lại cho Y N với số tiền 75.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Như vậy, hành vi dùng cưa xăng hủy hoại diện tích 5.667 m2 rừng sản suất (rừng tự nhiên) của bị cáo Y S đã vượt quá mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối với rừng sản xuất. Tại thời điểm bị cáo phạm tội thì Bộ luật hình sự năm 1999 đang có hiệu lực cần áp dụng chính sách pháp luật mới của Nhà nước ta quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội, khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 có khung hình phạt nặng hơn khung hình phạt của khoản 1 Điều 189 BLHS năm 1999 nên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS 1999 để xử lý đối với bị cáo. Việc Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” được quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS 1999 là có cơ sở, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 189 BLHS năm 1999 quy định:

Người nào đốt, phá rừng trái phép rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Xét hành vi do bị cáo Y S gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ quản lý rừng của Nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác cho đời sống xã hội như lũ lụt, hạn hán, vì vụ lợi cá nhân muốn có đất rừng để sản xuất mà bị cáo bất chấp hậu quả thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật HĐXX xét thấy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Xét nhân thân bị cáo tốt chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, bị cáo đã bồi thường khắc phục một phần thiệt hại do mình gây ra với số tiền 2.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song để tái tạo rừng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1 điều 46 BLHS năm 1999, bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sống phụ thuộc bố mẹ, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 BLHS do đó HĐXX xem xét áp dụng Điều 47 BLHS xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt, xử phạt bị cáo thời hạn tù bằng thời hạn bị cáo bị tạm giam 04 tháng 12 ngày tù là phù hợp, đây cũng thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản riêng, đang sống phụ thuộc bố mẹ nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng áp dụng khoản 1 điều 189 BLHS năm 1999; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 BLHS năm 1999. Xử phạt bị cáo Y S 04 đến 06 tháng tù bằng là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH có đơn yêu cầu Y S, Y PL bồi thường số tiền là 83.079.098 đồng thiệt hại về môi trường và lâm sản để công ty trồng tái tạo rừng. Tại phiên tòa bị cáo Y S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan YPlê và nguyên đơn dân sự Công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại. Bị cáo Y S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Y PL đồng ý bồi thường cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH số tiền là 83.079.098 đồng thiệt hại về môi trường và lâm sản để công ty trồng tái tạo rừng, trong đó; bị cáo Y S bồi thường cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH số tiền 63.354.000 đồng, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh YPle bồi thường 19.725.000 đồng. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáoY S , người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan YPLe và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH là hoàn toàn tự nguyện, không trái phá luật, đạo đức xã hội và phù hợp với pháp luật nên HĐXX chấp nhận. Bị cáo đã bồi thường một phần số tiền 2.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song theo biên lai số 002919 ngày 05/11/2018, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 61.354.000 đồng cho Công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH để trồng và tái tạo rừng trên diện tích bị hủy hoại.

Tại phiên tòa nguyên đơn dân sự Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH rút yêu cầu bồi thường số tiền 16.487.461 đồng đối người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Y PL và anh Y N đối với 02 diện tích rừng 951m2 và 1149m2 do YPLe và Y N hủy hoại do chỉ bị phạt hành chính. Việc rút yêu cầu của nguyên đơn dân sự là phù hợp nên cần chấp nhận vag không xem xét nữa.

Đối với diện tích rừng bị hủy hoại 5667m2 hiện nay anh Y N đang sử dụng có nguồn gốc mua bất hợp pháp của Y S và Y PL nên anh Y N phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH để trồng và tái tạo rừng khi có yêu cầu.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 cưa xăng (theo lời khai có đặc điểm màu đỏ trắng, lam cưa dài 60 cm); 01 dao phát (theo lời khai có đặc điểm mũi dao bằng kim loại dài 30 cm, cán bằng tre); 01 quẹt ga mà Y S đã sử dụng để hủy hoại rừng; 01 cưa tay (theo lời khai có đặc điểm cán bằng gỗ, lưỡi cưa bằng kim loại dài 40 cm), 01 dao phát (theo lời khai có đặc điểm mũi dao bằng kim loại dài khoảng 20 cm, cán bằng tre mà Y N dùng để hủy hoại rừng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã phối hợp với các lực lượng chức năng truy tìm nhưng không có kết quả nên không đề cập xử lý.

Đối với số tiền 75.000.000 đồng mà Y S có được do bán đất rừng trái phép cho Y N, đây là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để truy thu toàn bộ số tiền trên sung quỹ Nhà nước.

Đối với hành vi hủy hoại rừng với diện tích 3.642m2 của Y PL, hành vi hủy hoại rừng với diện tích 1.535m2 của Y T và hành vi hủy hoại rừng với diện tích 1.149m2 của Y N, do không đủ yếu tố cấu thành tội Hủy hoại rừng quy định tại điều 189 BLHS năm 1999 mà vi phạm điểm b khoản 5 Điều 20 Nghị định số 157/NĐ-CP ngày 11/11/2013 nên ngày 25/9/2018, Công an huyện Đắk Song đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 15.000.000 đồng đối với Y N (tên gọi khác: Ma Quân) và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 15.000.000 đồng đối với Y T. Đối với Y PL, do vượt quá thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nên ngày 24 tháng 9 năm 2018, Công an huyện Đăk Song đã làm tờ trình đề nghị chủ tịch UBND huyện Đắk Song xử lý Y PL theo quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Y S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Y PL phải toàn bộ án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Y S phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Căn cứ khoản 1 Điều 189; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 BLHS năm 1999.

1. Xử phạt: Bị cáo Y S 04(bốn) tháng 12 (mười hai) ngày tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày 08/5/2018 đến ngày 20/9/2018. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc thỏa thuận giữa bị cáo Y S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh YPle bồi thường cho nguyên đơn dân sự Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH số tiền là 83.079.000 đồng (Tám mươi ba triệu không trăm bảy mươi chín nghìn đồng) làm tròn số, chia theo phần. Bị cáo Y S phải bồi thường số tiền 63.354.000đồng (Sáu mươi ba triệu ba trăm năm mươi bốn nghìn đồng) cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH, được khẫu trừ đi số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 002919 ngày 05/11/2018, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 61.354.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu ba trăm năm mươi bốn nghìn đồng). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh YPle phải bồi thường 19.725.000 đồng (Mười chín triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐH để trồng và tái tạo rừng trên diện tích bị hủy hoại.

Áp dụng khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự để tính lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm thi hành án.

Đối với diện tích rừng bị hủy hoại 5667m2 hiện nay anh Y N đang sử dụng có nguồn gốc mua bất hợp pháp của Y S và Y PL nên anh Y N phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH MTV lâm nghiệp ĐH để trồng và tái tạo rừng.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mười lăm triệu đồng) đồng mà Y S có được do phạm tội mà có.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo Y S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án hình sự sơ thẩm và 3.067.000 đồng (Ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Y PL phải nộp 986.000 đồng (Chín trăm tám mươi sáu nghìn đồng) án phí DSST.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án liên quan đến phần bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ