- Tranh chấp gì? án hình sự — "K. M. Chiếm đoạt trẻ em - phạm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo K’ M; giữ nguyên b n n sơ thẩm; Xử:
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 120 Bộ luật Hình sự
| T A N NH N D N C NG H A T NH L M Đ NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n n s : 56/2018/HS-PT Ngày: 28-8-2018 |
NHÂN DANH
N C C NG H A
H CH NGH A V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Huỳnh Văn Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy; Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào; Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s : 80/2018/HS-PT ngày 12/7/2018 đ i với bị cáo K’M do kháng cáo của bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 39/2018/HS-ST ngày 08-6-2018 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: K’M, sinh năm 1968 tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Thôn DG, xã PL, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Dân tộc: K’Ho; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Qu c tịch: Việt Nam; con ông (không rõ), con bà K’J, sinh năm 1935; chồng là K’T (đã chết); Có 02 con; con lớn sinh 1992; con nhỏ sinh 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này, đại diện hợp pháp bị hại vợ chồng anh Dơng Gur Ha Ng, chị Pang Tas H’ R không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
N DUNG VỤ N:
Theo c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:
Vợ chồng anh Dơng Gur Ha Ng, chị Pang Tas H’R cư trú tại thôn 4, xã ĐR, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng; có 01 con tên Pang Tas Y Kh, sinh ngày 17-9-2017. Vào sáng ngày 16-10-2017, anh Ha Ng đến nhà bị c o K’M u ng rượu, trong khi u ng rượu, anh Ha Ng tâm sự “Bị vợ đuổi đi”, bị c o K’M nghe như vậy, nên n y sinh ý định chiếm đoạt con của vợ chồng anh Ha Ng về nuôi.
Kho ng 16 giờ cùng ngày, bị c o K’M đến nhà chị H’R và tự giới thiệu là cô họ của anh Ha Ngh ở Lâm Hà đến chơi và thăm ch u. Đến sáng ngày 17-10-2017, bị c o K’M rủ chị H’R bế con đi ra huyện Lâm Hà để thăm họ hàng nên chị H’R đồng ý. Khi đến thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, bị c o K’M thuê phòng tại nhà nghỉ Minh Huệ để nghỉ; đến sáng ngày 18-10-2017, bị c o K’M nói với chị H’R đến Trung tâm y tế huyện Lâm Hà để chuyền nước còn cháu Y Kh cho u ng sữa ngoài. Sau đó, bị c o K’M bế cháu nhỏ đi ra khỏi nhà nghỉ Minh Huệ; điện thoại cho con trai anh K’T, anh K’Th nói “Đã sinh em bé rồi”, đi ra Bệnh viện Lâm Hà đón về.
Đến kho ng 12 giờ ngày 18-10-2017, anh K’T anh K’Th đi xe mô tô ra huyện Lâm Hà đưa ch u Y Kh về nhà trước tại thôn DL, xã PL, huyện Đam Rông; bị cáo K’M về nhà nghỉ Minh Huệ nói d i với chị H’R là cháu Y Kh đã được người nhà anh Ha Ng bắt đưa về huyện Đức Trọng, nên chị H’R khóc đi tìm con nhưng không thấy, sau đó bị cáo K’M đón xe cho chị H’R về nhà tại thôn 4, xã ĐR, huyện Đam Rông. Đến ngày 20-10-2017, anh Ha Ng và chị H’R đến Công an huyện Đam Rông t cáo sự việc. Sau khi x c minh, Cơ quan Công an đến nhà bị cáo K’M lập biên b n, giao cháu Y Kh cho vợ chồng anh Ha Ngh và chị H’R chăm sóc nuôi dưỡng.
Về bồi thường thiệt hại: Bị c o đã bồi thường 6.000.000đ cho bị hại và được bị hại bãi nại.
Đ i với các anh Ng, anh K’T, anh K’Th không biết mục đích của bị cáo K’M chiếm đoạt trẻ em nên không đề cập trách nhiệm hình sự.
B n án s 39/2018/HS-ST ngày 08-6-2018 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã tuyên b bị c o K’M phạm tội “Chiếm đoạt trẻ em”. Áp dụng kho n 1 Điều 120 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung Bộ luật Hình sự năm 1999); kho n 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung Bộ luật Hình sự năm 2015); Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội để áp dụng kho n 1 Điều 153; điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị c o K’M 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, B n án còn gi i quyết về án phí; quyền kh ng c o theo quy định pháp luật.
Ngày 18-6-2018 bị cáo K’M kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo K’M bổ sung kh ng c o, đề nghị Tòa án xem xét gi m nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật t tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên B n n sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Khi biết vợ chồng anh Dơng Gur Ha Ng, chị Pang Tas H’R có con chung tên Pang Tas Y Kh, sinh ngày 17-9-2017, nay có bất đồng trong cuộc s ng; bị cáo n y sinh ý định chiếm đoạt cháu Y Kh bằng thủ đoạt tự giới thiệu là cô họ của anh Ha Ng, để tiếp cận cháu Y Kh, tạo ra hoàn c nh rủ chị H’R bế con đi ra huyện Lâm Hà để thăm họ hàng, sau đó nói chị H’R đến Trung tâm y tế huyện Lâm Hà để chuyền nước nhằm tách khỏi sự qu n lý, chăm sóc của chị H’R đ i với cháu Y Kh. Đến ngày 18-10-2017, bị cáo bế cháu Y Kh giao cho cho anh K’T, anh K’Th đưa về nhà bị c o, sau đó tiếp tục nói d i rằng “Cháu Y Kh đã được người nhà anh Ha Ng bắt đưa về huyện Đức Trọng”. Sau khi bị anh Ha Ng và chị H’R t cáo sự việc; Cơ quan Công an xác minh đến nhà bị cáo K’M lập biên b n, giao cháu Y Kh cho vợ chồng anh Ha Ng và chị H’R chăm sóc nuôi dưỡng. Đ i chiếu lời khai của bị cáo, lời khai của anh Ha Ng và chị H’R, lời khai anh K’T, anh K’Th; biên b n sự việc ngày 21-10-2017 Tòa án cấp sơ thẩm đ nh gi toàn diện chứng cứ, tuyên b bị cáo phạm tội “Chiếm đoạt trẻ em” theo quy định kho n 1 Điều 120 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ.
[2] Xét hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm hại sự qu n lý chăm sóc nuôi dưỡng đ i với con của họ, trong khi đó ch u Y Kh mới 01 tháng 03 ngày tuổi cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ. Tòa án cấp sơ thẩm đ nh gi toàn diện chứng cứ, áp dụng đầy đủ các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo hành khẩn khai b o, đã bồi thường thiệt hại và được bị hại đề nghị gi m nhẹ hình phạt quy định điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra, theo kho n 1 Điều 120 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định khung hình phạt từ 3 năm tù đến 10 năm tù; trong khi đó, kho n 1 Điều 153 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định khung hình phạt từ 3 năm tù đến 7 năm tù là thuộc trường hợp có lợi cho bị cáo. Cấp sơ thẩm cũng đã căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 để áp dụng kho n 1 Điều 153 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt là có căn cứ. Ngoài ra, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng, được hưởng hai tình tiết gi m nhẹ quy định kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã p dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là thỏa đ ng.
Tại phiên tòa phúc thẩm; Bị c o kh ng c o đề nghị gi m nhẹ hình phạt, được hưởng án treo nhưng không có tình tiết nào mới, trong khi đó tình hình tội phạm xâm hại trẻ em hiện nay đang nổi cộm, nên việc bị c o đề nghị được hưởng án treo sẽ nh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không b o đ m công t c đấu tranh phòng ch ng tội phạm hiện nay. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên b n n sơ thẩm là phù hợp.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật t tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo K’ M; giữ nguyên b n n sơ thẩm; Xử:
Tuyên b bị c o K’M phạm tội “Chiếm đoạt trẻ em”. Áp dụng kho n 1 Điều 120 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội để áp dụng kho n 1 Điều 153; điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt Bị c o K’M 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Qu c hội. Buộc bị cáo K’ M ph i 200.000đ n phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. H Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ GĐKT(I) – TANDTC;
THẨM PHÁN – CH TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Sở tư ph p tỉnh Lâm Đồng;
- TAND, VKSND cấp sơ thẩm;
- Chi cục THADS Lâm Hà;
(Đã ký)
- Cơ quan THAHS Lâm Hà;
- Cơ quan CSĐT Lâm Hà;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, Án văn.
Nguyễn Kim Đồng
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Lâm Đồng (1) - Phòng KTNV&THA (1) - TA huyện Lâm Hà (2) - VKS huyện Lâm Hà (1) - Công an huyện Lâm Hà (1) - Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồng (1) - Chi cục THADS Lâm Hà (1) - Bị c o (để thi hành); - Hồ sơ THAHS (1) - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. H Đ NG ÉT Ử PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Đồng |