vanban.org

Bản án 56/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn T-H"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 56/2018/HNGĐ-ST

Ngày: 31/08/2018

V/v tranh chấp: “Xin ly hôn’’

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hổ Ông Phạm Văn Ninh - Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre Ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 179/2018/TLST-HNGĐ ngày 09/5/2018 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp 2 xã TN, huyện VL, tỉnh Vĩnh Long (có mặt) 2. Bị đơn: chị Trần Lệ H, sinh năm 1983; nơi cư trú: 46F3 khu phố A, phường PT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/5/2018, trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh T trình bày: Anh và chị H kết năm 2012, hôn nhân do cả hai tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã TN, huyện VL, tỉnh Vĩnh Long. Sau kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 03 năm thì chị H bỏ nhà ra đi đến nay gia đình không liên lạc được. Hiện tình cảm của anh đối với chị H không còn. Nay anh cương quyết xin được ly hôn.

Về con chung: không có Tài sản chung: không có Nợ chung: anh T khai không có Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời chị H đến để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị H vẫn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả của việc tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy: [1] Ngày 02/5/2018 anh Huỳnh Văn T có đơn xin ly hôn với chị Trần Lệ H, nơi cư trú cuối cùng của chị H tại thành phố BT nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo qui định tại các Điều 28, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã niêm yết thông báo thụ lý, thông báo hòa giải nhưng chị H không có mặt theo thông báo hòa giải nên không thể tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Ngoài ra, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre cũng đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập, quyết định hoãn phiên tòa cho chị H để tham gia phiên tòa nhưng chị vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H là phù hợp. [3] Anh Huỳnh Văn T và chị Trần Lệ H kết hôn năm 2012, hôn nhân do cả hai tự nguyện, đăng ký tại UBND xã TN, huyện VL, tỉnh Vĩnh Long. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 03 năm thì chị H bỏ nhà ra đi đến nay gia đình không liên lạc được. Hiện tình cảm của anh đối với chị H không còn. Nay anh cương quyết xin được ly hôn. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T. [4] Về con chung: không có [5] Về tài sản chung: không có nên không đặt vấn đề giải quyết. [6] Về nợ chung: anh T khai không có nên không xem xét giải quyết. [7] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng anh T phải nộp. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Huỳnh Văn T, cụ thể tuyên: - Về hôn nhân: anh Huỳnh Văn T được ly hôn với chị Trần Lệ H. - Về con chung: không có - Về tài sản chung: không có - Về nợ chung: anh T khai không có nên Tòa không xem xét. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm anh Huỳnh Văn T phải nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015647 ngày 09/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ