- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thẩm - Dũng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Châu Hồng T và anh Tạ Văn D là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH CÀ MAU —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2018/HNGĐ-ST Ngày 03-7-2018 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Xuân Thanh.
Ông Nguyễn Minh Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển.
Ngày 03 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2018/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Châu Hồng T, sinh năm 1978; cư trú tại ấp T, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Anh Tạ Văn D, sinh năm 1977; cư trú tại ấp T, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 4 năm 2018 của chị Châu Hồng T và quá trình tố tụng tại Tòa án chị T trình bày: Chị và anh Tạ Văn D tự nguyện kết hôn vào năm 1999, không đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh D thường hay uống rượu, kiếm chuyện xúc phạm chị và không quan tâm đến kinh tế gia đình dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Hiện tại, chị và anh Dg tự sống riêng với nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn cùng anh D.
Về con chung có hai người đang ở cùng chị gồm Tạ Như H, sinh năm 2002 và Tạ Huỳnh N, sinh năm 2000, sau khi ly hôn con có nguyện vọng ở với ai thì người đó nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng.
Về tài sản chị không yêu Tòa án giải quyết.
Tại đơn đề nghị vắng mặt ngày 06 tháng 6 năm 2018 của anh Tạ Văn D trình bày: Anh và chị Châu Hồng T kết hôn vào năm 1999 nhưng không đăng ký kết hôn, do cuộc sống bất đồng nên chị T tự ý sống riêng cùng anh, nay chị T yêu cầu ly hôn anh đồng ý.
Về con chung có hai người như chị T trình bày, anh chấp nhận theo ý kiến của chị T, ngoài ra anh không yêu cầu gì khác và đề nghị vắng mặt khi giải quyết vụ án.
Đối với các con của chị T và anh D đều có nguyện vọng ở cùng chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Châu Hồng T được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Tạ Văn D có đơn đề nghị vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt anh D.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Châu Hồng T và anh Tạ Văn D tự nguyện kết hôn vào năm 1999 nhưng không đăng ký kết hôn là chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết. Do quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh D không đăng ký theo quy định của pháp luật, căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị T và anh Dg là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Thời gian chung sống, chị T và anh D có hai người con đang ở cùng chị T, sau khi ly hôn chị T và anh D đều thống nhất tùy các con lựa chọn muốn ở với ai thì người đó nuôi dưỡng và thực tế các con đều có nguyện vọng ở cùng chị T, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận theo ý kiến của các đương sự giao hai người con cho chị T nuôi theo nguyện vọng của các con. Phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Anh D có quyền thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Chị Châu Hồng T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, được khấu trừ phần tạm ứng án phí chị T đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 53, khoản 1 Điều 14, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử vắng mặt anh Tạ Văn D.
Về hôn nhân: Không công nhận chị Châu Hồng T và anh Tạ Văn D là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Chị Châu Hồng T được nuôi hai người con đang ở cùng chị gồm Tạ Như H, sinh năm 2002 và Tạ Huỳnh N, sinh năm 2000.
Anh D có quyền thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không đươc lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị T.
Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Châu Hồng T phải chịu 300.000 đồng, chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0014165 ngày 06/4/2018 được khấu trừ.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Ngọc Hiển; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Hải |