- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ngô Thị Thanh M- Nguyễn P"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa Bản án dân sự sơ thẩm lần 2 số: 80/2017/DSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyệ n X như sau:
- Căn cứ chính? Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2018/DS-PT Ngày: 24/7/2018 V/v “T/c HĐ vay tài sản, HĐ CN quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quang
Các Thẩm phán:
Ông Đoàn Ngọc Thiện
Ông Cao Minh Vỹ
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Tì nh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Bùi Thị Doan - KSV.
Ngày 24 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2018/TLPT-DS ngày 23 tháng 02 năm 2018, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bả n á n dân sự sơ thẩ m số 80/2017/DSST ngà y 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyệ n X bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2018/QĐPT- DS ngày 02 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Thanh M, sinh năm 1976 (có mặt) và ông Phạm Công C, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: tổ K, ấp G, xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Công C: Bà Ngô Thị Thanh M (Văn bản uỷ quyền lập ngày 10/10/2017 – có mặt).
2. Bị đơn: Vợ chồng bà Đoàn Thị Q, sinh năm 1968 và ông Nguyễn P, sinh năm 1954 (đều có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: tổ K, ấp T, xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thanh H, sinh năm 1956 (Giấy ủy quyền do ủy ban nhân dân xã B, huyệ n X chứng thực số 191 quyển số 01-SCT/CK.ĐC ngày 06/12/2017 - có mặt).
Địa chỉ cư trú: đườ ng B, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Ngô Thị Thanh N, Luật sư Văn phòng Luật sư N thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966 (vắng mặt).
3.2. Ông Dương Quỳnh G, sinh năm 1972 (vắng mặt).
3.3. Ông Nguyễn C1, sinh năm 1986 (vắng mặt).
3.4. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: tổ K, ấp B, xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3.5. Ngân hà ng N - Chi nhánh huyệ n X.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Hồng A - Giám đốc (vắng mặt).
3.6. Doanh nghiệp tư nhân C có trụ sở ấp G, xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ngườ i đạ i diệ n theo phá p luậ t: Bà Ngô Thị Thanh M - Chủ Doanh nghiệp (có mặt).
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1950 (vắng mặt).
Địa chỉ: tổ K, ấp T, xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
4.2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Địa chỉ: tổ K, ấp T, xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
Ngườ i khá ng cá o: Vợ chồ ng ông Nguyễ n P, bà Đoàn Thị Q – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 12/12/2005, UBND huyệ n X cấp Giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AD 812444 cho vợ chồng bà Q ông P đố i với diện tích đất 177,2m2 thuộc thửa 544, tờ bản đồ 30 tọa lạc tại xã B, huyệ n X (BL 227-230).
Ngày 13/3/2006, vợ chồng bà Q ông P ký Hợp đồ ng tí n dụ ng số 142/HĐTD vay của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện X 50.000.000đ, ngày trả n ợ cuố i cù ng là ngày 13/3/2007 (BL 102-103).
Ngày 03/4/2006, UBND huyệ n X cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AĐ 617951 cho vợ chồng bà Q, ông P đối với diện tích đất 243m2 thuộc thửa số 218, tờ bản đồ số 50 tọa lạc tại xã B, huyệ n X (BL 223-226).
Ngày 12/8/2006 (âm lịch), bà Q và bà M ký “Hợp đồng cầm đồ” với nội dung: Bà Q cầm cố 1 cuốn sổ đỏ tên Đoàn Thị Q số AĐ 617951 có giá trị tương ứng với số tiề n đ ược vay là 40.000.000đ. Thời gian vay từ ngà y 12/8/2006 âm lịch đến 12/11/2006 âm lịch, lãi suất thỏa thuận . Trong thời hạ n 03 tháng kể t ừ khi hế t hạ n trả nợ, mà bà Q không trả nợ thì tài sản cầm cố thuộc quyền s ở hữu củ a bà M và bà M được quyề n bá n tà i sả n để thu hồ i vố n (BL 101).
Ngày 02/11/2006, bà Q viế t “Giấ y nhậ n nợ” (BL 17 phô tô) của bà M (G) với nộ i dung:
- Tiề n Q nợ riêng của G là: 169.190.000đ.
- Nộ p tiề n ngân hà ng: 53.350.000đ.
- Tố i 27/10/2006 (âm lị ch) mượn: 20.000.000đ.
- Trưa 28/10/2006 (âm lị ch) mượn: 2.000.000đ.
- Tố i 28/10/2006 (âm lị ch) mượn: 10.000.000đ.
- Sáng 29/10/2006 (âm lị ch) mượn: 20.000.000đ.
- Trả B tố i 29/10/2006 (âm lị ch) mượn: 10.000.000đ.
+ Ngày 02/11/2006 (âm lị ch) tiề n gó p sang sổ đứng: 20.000.000đ.
+ Tiề n Q cầm riêng sổ đỏ: 40.000.000đ.
+ Tiề n lời 3 tháng x 1.800.000đ/tháng: 5.400.000đ.
Tổ ng cộng đến ngày 02/11/2006 (âm lị ch) số tiề n bà Q nợ là: 349.940.000đ.
Ngày 12/12/2006, vợ chồng bà M ông C và vợ chồng bà Q ông P lập “Giấy thỏa thuận cam kết” (BL 42) với nội dung:
1. Vợ chồng bà M ông C lãnh nợ ngân hàng cho vợ chồng bà Q ông P với số tiền mượn là 500.000.000đ.
2. Vợ chồng bà Q ông P sang cho vợ chồng bà M ông C 02 lô đất (hiệ n là nhà đấ t đang tọ a lạ c tạ i ấp T) theo Giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AD 812444 của UBND huyệ n X cấp ngày 12/12/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AĐ 617951 của UBND huyệ n X cấp ngày 03/4/2006.
3. Sau thời hạn 02 năm sau khi vợ chồng bà Q ông P thanh toán hết 500.000.000đ cho vợ chồng bà M ông C, thì vợ chồng bà M ông C sẽ làm thủ tục sang nhượng lại 02 lô đất trên cho vợ chồng bà Q ông P.
4. Quá thời hạn nêu trên, nếu vợ chồng bà Q ông P không thanh toán hết số nợ cho vợ chồng bà M ông C thì vợ chồng bà M ông C sẽ toàn quyền sử dụng 02 lô đất và tài sản trên đất.
(Cuối mục 4 có chữ viết tay với nội dung: “Mục 4 trên bỏ viết lại. Đến 2 năm vợ chồng bà Q ông P không trả bớt một phần nợ thì vợ chồng bà Q ông P không còn quyền sử dụng. Nếu vợ chồng bà Q ông P trả bớt từ 50 đến 100 triệu thì vợ chồng bà Q ông P vẫn còn quyền sử dụng đất”).
Ngày 12/12/2006 (phần điền số 12 vào sau chữ “ngày …”, số 12 vào sau chữ “tháng…”, số 2006 vào sau chữ “năm…” được viết bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ), vợ chồng bà M ông C và vợ chồng bà Q ông P lập “Giấy cam kết đã thỏa thuận 2 bên” (viết tay bằng nét mực màu xanh đậm và lớn) (BL 46) với nội dung:
- Vợ chồng bà Q ông P đồng ý sang tên sổ đỏ cho vợ chồng bà M ông C (tên vợ chồng bà M ông C được viết bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ) để làm niề m tin, để tạo cho vợ chồ ng bà Q ông P nguồn vốn 500.000.000đ (phần chữ ghi bằng số và bằng chữ 500.000.000đ bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ).
- Kể từ ngày viết đơn đến 50 ngày sau đưa cho vợ chồng bà Q ông P 300.000.000đ, trong thời gian làm ăn buôn bán vợ chồng bà Q ông P được quyền ở, sử dụng đất.
- Khi vợ chồng bà Q ông P đã trả đủ nguồn vốn cho vợ chồng bà M ông C (tên vợ chồng bà M ông C được viết bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ) phải làm lại số đổi tên lại cho 2 vợ chồng bà Q ông P. Bên B phải chịu chuyển nhượng lần 2 (được viết bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ).
- Lý do: Sang nhượng sổ đỏ để có số l ượng đấ t l ớn dễ dà ng vay vố n ngân hàng được nhiề u. Tiền nợ cầm sổ đỏ sau 40.000.000đ; tiền nợ rút sổ đỏ ngân hà ng 50.000.000đ.
- Số tiền 300.000.000đ vợ chồng bà Q ông P trả lãi theo lãi suất ngân hàng, số còn lại trả lãi theo thỏ a thuậ n riêng.
- Giấy được sao thành 2 bản, vợ chồng bà Q ông P nhận bản phô tô, vợ chồng bà M ông C (bên nhận chuyển nhượng) nhận bản gốc.
- Điều ghi chú sau: “Khi giao tiền vay vốn ngân hàng 300 triệu (ba trăm triệu) hoặc tiền trả lãi ngân hàng, hai bên phải làm giấy giao và nhận, hai bên ký tên vào giấy” (toàn bộ phần chữ này được viết bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ).
Cuối giấy cam kết ghi: “Người nhượng sổ, chồng - Nguyễn P” và ký tên. Phần ghi vợ - Đoàn Thị Q; B, ngày … tháng… năm …; nhân chứng 1, nhân chứng 2 được viết bằng nét mực màu xanh đậm và lớn (nhưng đều để trống nội dung thông tin).
* Các phần:
- Chữ ký và chữ viết Phạm Công C, Ngô Thị Thanh M bên dưới dòng “người nhận sổ” (được viết bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ).
- Chữ ký và chữ viết Đoàn Thị Q bên dưới dòng chữ “vợ - Đoàn Thị Q” (được viết bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ).
- Chữ ký và chữ viết Nguyễn Thị X bên dưới dòng chữ “Nhân chứng 1”, Nguyễn Công Đ bên dưới dòng chữ “Nhân chứng 2” (được viết bằng nét mực màu xanh nhạt và nhỏ).
Ngày 13/12/2006, vợ chồng bà Q ông P ký 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà M ông C đố i với:
- Thửa đất số 180, tờ bản đồ số 50 theo Giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AD 812444 tọa lạc tại ấp T, xã B, huyệ n X với giá 40.000.000đ (BL 113).
- Thửa đất số 218, tờ bản đồ số 50 theo Giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AĐ 617951 tọa lạc tại ấp T , xã B, huyệ n X với giá chuyển nhượng là 40.000.000đ (BL 118).
Cùng ngày 13/12/2006, Ngân hàng N – chi nhá nh B có các phiếu thu:
- Phiếu thu số VD0022 thu số tiền 50.000.000đ; người trả: Nguyễn P; Trích yếu: Thu nợ gốc trong hạn tất toán khế ước số 060782.00142 (tất toán); người ký nộp tiền: Ngô Thị Thanh M (BL 107).
- Phiếu thu số VD0022 số tiền 3.355.000đ; người trả: Nguyễn P; Trích yếu: Thu lãi trong hạn KU 060782.00142 từ 13/6/06 – 13/12/06; 50.000.000 x 183 x 1.1000% (BL 107).
Không ngà y thá ng năm , bà M và vợ chồ ng ông P bà Q làm “Giấ y cam kế t thỏa thuận giữa 2 bên” (BL 44) với nộ i dung : Vợ chồ ng bà M ông C có nhận chuyể n nhượng quyề n sử dụng đất của vợ chồ ng bà Q ông P. Vợ chồ ng bà Q ông P đã đồ ng ý sang tên chuyể n nhượng và v ợ chồ ng bà Q ông P có mượn vợ chồ ng C (tên thường gọ i của vợ chồ ng bà M ông C) số tiề n 500.000.000đ. Sau khi bà Q ông P trả hết n ợ cho vợ chồ ng bà M ông C thì vợ chồ ng bà M ông C có trách nhiệm chuyể n sổ quyề n sử dụng đất cho vợ chồ ng bà Q ông P.
Ngày 08/11/2009, vợ chồng bà Q ông P có “Đơn khiếu nại tố cáo vợ chồng bà M ông C về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” gửi Ban tư pháp xã B (BL 34b-35) với nội dung: Vợ chồng bà Q ông P vay của vợ chồng bà M ông C 90.000.000đ. Sau đó vợ chồng bà M ông C nói sang tên 2 lô đất cho vợ chồng bà M ông C để vợ chồng bà M ông C vay dùm cho số tiền 300.000.000đ. Ngày 12/12/2006, vợ chồng bà Q ông P làm thủ tục sang nhượng 02 lô đất cho vợ chồng bà M ông C. Sau khi sang tên thì vợ chồng bà M ông C không vay vốn dùm và cũng không trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cho vợ chồng bà Q ông P.
Ngày 19/12/2009, tổ hòa giải của UBND xã B đã tiến hành hòa giải về việc bà M đòi lại nhà đất cho thuê tại ấp T đố i với vợ chồng ông P, bà Q nhưng không thành (BL 08).
Ngày 25/12/2009, bà M có “Đơn khiếu nại về việc đòi lại tài sản” (BL 11) với nội dung: Ngày 12/12/2006 vợ chồng bà M ông C có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Q ông P 02 lô đất và nhà tại ấp T. Nhà đất đã được sang tên cho vợ chồng bà M ông C. Sau đó vợ chồng bà M ông C cho vợ chồng bà Q ông P ở nhờ trong thời gian 2 năm, đến nay đã quá hạn nhưng vợ chồng bà Q ông P không trả mà còn cho vợ chồng ông G bà T thuê.
Ngày 31/12/2009, vợ chồng bà M ông C có đơn khởi kiện vợ chồng bà Q ông P yêu cầu vợ chồng bà Q ông P trả nhà đất gồ m diệ n tí ch 177,2m2 thuộ c thửa số 544 tờ bản đồ số 30 có Giấy chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AD 812444 và diện tích 243m2 thuộ c thửa 218 tờ bản đồ số 50 có Giấy ch ứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AD 617591 đều tọa lạc tại xã B, huyệ n X (BL 20).
Ngày 21/01/2010, Tòa án nhân dân huyệ n X thụ lý giải quyết sơ thẩm lần 1 vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là vợ chồng bà M ông C với bị đơn là vợ chồng bà Q ông P.
Cùng ngày 28/01/2010, Ngân hà ng N - Chi nhánh huyệ n X ký Hợp đồ ng tí n dụng số 26/HĐTD cho Doanh nghiệ p tư nhân (DNTN) C vay 1.450.000.000đ. Thời hạn vay 12 tháng, ngày trả n ợ cuố i cù ng 03/02/2011 (BL 186-187). Tài sản đảm bảo nợ vay là 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo 03 hợp đồng thế chấp trong đó gồm 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang tranh chấp với vợ chồng bà Q ông P (BL 176-178) là:
- Giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất số AĐ 617591 ngày 03/4/2006; Giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất số AD 812444 ngày 12/12/2005.
Ngày 15/3/2010 vợ chồng bà M ông C có đơn xin giám định chữ ký trong “Giấy cam kết thỏa thuận 2 bên” lập ngày 12/12/2006 (BL 62). Đến ngày 22/3/2010, vợ chồng bà M ông C có đơn xin từ chối giám định chữ ký trong “Giấy cam kết thỏa thuận 2 bên” (BL 63).
Ngày 11/01/2011, Ngân hà ng N - Chi nhánh huyệ n X và DNTN C ký Hợp đồng tín dụng số 56/HĐTD đáo nợ đối với khoản vay 1.450.000.000đ theo Hợp đồ ng tí n dụ ng số 26/HĐTD mà DNTN C vay vào ngày 28/01/2010, các tài sản thế chấp được giữ nguyên (BL 121-122).
Tại Bả n á n dân sự s ơ thẩm lần 1 số 18/2011/DS-ST ngày 24/8/2011 của Tòa án nhân dân huyệ n X đã tuyên xử: Chấ p nhậ n yêu cầ u của vợ chồng bà M ông C đố i với vợ chồng bà Q ông P. Buộ c vợ chồng bà Q ông P giao cho vợ chồng bà M ông C 02 lô đấ t gồ m thửa 180, 218 tờ bản đồ 50 xã B cùng 02 căn nhà nằ m trên đấ t. Buộc bà T, ông G, ông C1, bà T2 di dời ra nơi khác để giao nhà đất cho bà M ông C (BL 147-149).
Ngày 06/9/2011, vợ chồng bà Q ông P có đơn kháng cáo (BL 160-161).
Tại Bả n á n phúc thẩm lần 1 số 97/2011/DS-PT Ngà y 12/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu tuyên xử (BL 320-324):
- Chấ p nhậ n mộ t phầ n khá ng cá o củ a v ợ chồng bà Q ông P, sửa Bả n á n số 18/2011/DSST ngà y 24/8/2011 của TAND huyệ n X.
- Bác đơn khởi kiệ n củ a v ợ chồ ng bà M ông C đố i với vợ chồng bà Q ông P về tranh chấ p hợp đồ ng chuyể n nhượng quyề n sử dụng đất.
- Hủy Giấy cam kết thỏa thuận không ghi ngày tháng ; 02 Giấ y thỏ a thuậ n cam kế t cùng lậ p ngà y 12/12/2006 có sự ký nhận của vợ chồ ng bà M ông C và vợ chồ ng bà Q ông P.
- Buộ c Chi nhá nh ngân hà ng N huyệ n X giao trả cho vợ chồ ng bà Q ông P Giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AĐ 617951 do UBND huyệ n X cấ p ngà y 03/4/2006, đứng tên bà Q ông P đã chuyể n sang tên bà M ông C ngày 21/12/2006; Giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AD 812444 do UBND huyệ n X cấ p ngà y 12/12/2005, đứng tên bà Q ông P đã chuyể n sang tên bà M ông C vào ngày 21/12/2006. Các bên có trách nhiệm liên hệ c ơ quan có thẩ m quyề n là m thủ tụ c chuyể n quyề n sử dụng đất theo quyết định nói trên.
- Buộ c v ợ chồ ng bà Q ông P phải hoàn trả cho v ợ chồ ng bà M ông C 90.000.000đ (chín mươi triệ u đồ ng) tiền gốc và 81.216.000đ (tám mốt triệu hai trăm mười sá u ngà n đồ ng) tiền lãi.
Tại Quyế t đị nh Giá m đố c thẩ m số 158/2013/DS-GĐT ngà y 16/4/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã hủ y toàn bộ Bản án dân s ự sơ thẩ m số 18/2011/DSST ngà y 24/8/2011 của T òa án nhân dân huyệ n X và Bản án dân s ự phúc thẩm số 97/2011/DS-PT ngày 12/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BL 333-336).
Ngày 11/6/2013, TAND huyệ n X thụ lý giải quyết lại s ơ thẩ m lầ n 2 đố i với vụ án “Tranh chấ p h ợp đồ ng chuyể n nh ượng quyề n sử dụng đất” giữa vợ chồ ng bà M ông C với vợ chồ ng bà Q ông P (BL 362).
Ngày 01/4/2014, bà M có đơn yêu cầ u giá m đị nh (BL 389).
Ngày 25/7/2014, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu có Kế t luậ n giá m đị nh số 1735/PC54-Đ3, kế t luậ n (BL 397):
+ Chữ viế t: “để vay vốn Ngân Hàng ”; “Kể từ ngày viết đơn đế n 50 ngày sau đưa 02 vợ chồ ng tôi 300 Triệ u, ba Trăm Triệ u”; “Số tiề n 300 Triệ u 02 vợ chồ ng tôi đã theo lã i…hai bên ký và o giấ y ” trong Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n 02 bên lậ p ngà y 12/12/2006 là do cù ng mộ t người viế t ra.
+ Chữ viế t “để vay vố n Ngân Hà ng ”; “Kể từ ngày viết đ ơn đế n 50 ngày sau đưa 02 vợ chồ ng tôi 300 Triệ u, ba Trăm Triệ u ” được viế t thêm và o và khá c mà u mực với những chữ viế t cò n lạ i của Giấy cam kết thỏa thuận 02 bên lậ p ngà y 12/12/2006.
+ Chữ viế t “ Số tiề n 300 Triệ u 02 vợ chồ ng tôi…bên nhậ n chuyể n nh ượng nhậ n giấ y gố c ” cù ng mà u m ực với những chữ viế t cò n lạ i (trừ dòng chữ 144/4, I, Phạm C ông C sinh năm 1974, Ngô Thị Thanh M sinh năm 1976, ấp G , 500.000.000, năm trăm triệ u, Bên B phả i chị u chuyể n nh ượng lầ n 2) của Giấy cam kế t thỏ a thuậ n 02 bên lậ p ngà y 12/12/2006.
+ Chữ viế t “ Điề u ghi chú sau : Khi giao tiề n vay vố n …hai bên ký tên và o
giấ y” khác màu m ực với những chữ viế t cò n lạ i của Giấy cam kết thỏa thuận 02 bên lậ p ngà y 12/12/2006.
Ngày 12/8/2015, vợ chồng bà M ông C có Đơn thay đổ i yêu cầ u kh ởi kiệ n (BL 431), nội dung: Vợ chồng bà M ông C rút yêu cầ u buộ c bà Q ông P giao nhà và đấ t tạ i cá c thửa 180, 218 tờ bản đồ 50 xã B; buộc bà Q ông P trả số tiền gốc đã vay là 593.355.000đ và lãi suất như sau:
- Số tiền 40.000.000đ tính từ ngày 12/8/2006 âm lịch đến khi xét xử vụ án.
- Số tiền 53.355.000đ và 500.000.000đ tính từ ngày 13/12/2006 đến khi xét xử vụ án.
Ngày 30/6/2016, vợ chồ ng bà Q ông P có đơn yêu cầ u giá m đị nh lạ i “Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n gi ữa hai bên” ngày 12/12/2006 và “Giấ y cam kế t đã thỏ a thuậ n giữa (2 bên)” không đề ngà y thá ng (BL 472).
Ngày 17/3/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu có Kế t luậ n giá m đị nh số 431/PC54-Đ3, kế t luậ n (BL 481):
+ Chữ viế t “500.000.000” và “ năm trăm triệ u ” củ a Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n giữa hai bên ngà y 12/12/2006 so với chữ viế t củ a “ 500.000.000đ (năm trăm triệ u đồ ng chẵ n )” củ a Giấ y cam kế t đã thỏ a thuậ n gi ữa (2 bên) không đề ngà y thá ng không phả i do cù ng mộ t người viế t ra.
+ Chữ viế t “500.000.000” và “ năm trăm triệ u ” củ a Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n giữa hai bên ngà y 12/12/2006 so với những chữ còn lại (trừ các chữ 144/4; I; Phạm Công C sinh 1974; Ngô Thị Thanh M sinh 1976; ấp G ; Phạm C ông C; Ngô Thị Thanh M; Bên B phả i chị u chuyể n nhượng lầ n 2; vợ; Phạm Công C, Ngô Thị Thanh M; Đoà n Thị Q; 12, 12, 2006; Nguyễ n Thị X; Nguyễ n Công R) do cù ng mộ t người viế t ra.
+ Chữ viế t “500.000.000” và “ năm trăm triệ u ” củ a Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n giữa hai bên ngà y 12/12/2006 cùng màu m ực so với những chữ 144/4; I; Phạm Công C sinh 1974; Ngô Thị Thanh M sinh 1976; ấp G ; Phạm C ông C; Ngô Thị Thanh M; Bên B phả i chị u chuyể n nhượng lầ n 2; vợ; Phạm Công C, Ngô Thị Thanh M; Đoà n Thị Q; 12, 12, 2006; Nguyễ n Thị X; Nguyễ n Công R trên tà i liệ u cầ n giá m đị nh.
+ Chữ viế t “ 500.000.000” và “ năm trăm triệ u ” trên tà i liệ u cầ n giá m đị nh khác màu m ực so với những chữ còn lại trên tài liệu cần giám định (trừ các chữ 144/4; I; Phạm Công C sinh 1974; Ngô Thị Thanh M sinh 1976; ấp G; Phạm Công C; Ngô Thị Thanh M ; Bên B phả i chị u chuyể n nh ượng lầ n 2; vợ; Phạm Công C, Ngô Thị Thanh M; Đoà n Thị Q; 12, 12, 2006; Nguyễ n Thị X; Nguyễ n Công R).
+ Chữ viế t “500.000.000” và “năm trăm triệ u” là chữ điề n thêm.
* Quá trình thụ lý giải quyết lại lần 2, nguyên đơn bà M (đồng thời đại diện theo ủy quyền của ông C) trình bày:
- Ngày 12/8/2006 (âm lịch), bà Q vay của bà M ông C 40.000.000đ, lãi suất thỏa thuận, thời hạn là 03 tháng. Để làm tin, bà Q đã gửi bà M ông C một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Q. Điều này được chứng minh bằng “Hợp đồng cầm đồ” lập ngày 12/8/2006 (âm lịch), có chữ ký của bà Q. Số tiền này vợ chồng bà Q ông P chưa trả cho bà M ông C tiền gốc và lãi.
- Do vợ chồng bà Q ông P cần số tiền 500.000.000đ để làm ăn nên đã hỏi vay bà M ông C số tiền này. Để làm tin thì ngày 12/12/2006, vợ chồng bà Q ông P ký thỏa thuận cam kết với bà M ông C về việc nhận chuyển nhượng hai căn nhà gắn liền hai thửa đất số 180 và 218 tờ bản đồ số 50 xã B, huyệ n X với giá 500.000.000đ. Bà M ông C đã giao cho vợ chồng bà Q ông P đủ số tiền trên và cùng ký vào giấy cam kết. Điều này được chứng minh bằng “Giấy cam kết thỏa thuận giữa (2 bên)” không ngày tháng năm và “Giấy cam kết thỏa thuận giữa 2 bên” lập ngày 12/6/2006 có chữ ký của vợ chồng bà Q ông P.
Ngay sau đó, khi bà M ông C yêu cầu vợ chồng bà Q ông P đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai thửa đất này thì vợ chồng bà Q ông P nói là một giấy đang thế chấp tại Ngân hàng N– Phòng giao dịch B để vay 50.000.000đ. Vì vậy, ngày 13/12/2006 bà M ông C đã phải giải chấp, thanh toán tất toán khế ước số 060782.00142 thay cho ông vợ chồng bà Q ông P số tiền gốc là 50.000.000đ cùng 3.355.000đ tiền lãi (điều này được chứng minh bằng: 02 Phiếu thu do Ngân hàng N – Phòng giao dịch B lập ngày 13/12/2006).
Do trước đây, bà M ông C có thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 180 và 218 tờ bản đồ số 50 xã B, huyệ n X cho Ngân hàng N–Chi nhánh huyệ n X để vay tiền nhưng nay đã giải chấp và ngân hàng đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất trên. Vì vậy, Ngân hàng N–Chi nhánh huyệ n X không còn liên quan đến vụ án.
Vì bà M ông C không còn yêu cầu giao nhà, đất nữa nên các ông bà Nguyễn Thị T, ông Dương Quỳnh G, ông Nguyễn C1, bà Nguyễn Thị T2 cũng không còn liên quan đến vụ án.
Thấy rằng việc yêu cầu giao nhà và đất là không còn phù hợp nên bà M ông C thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu Tòa án nhân dân huyệ n X giải quyết buộc vợ chồng bà Q ông P hoàn trả cho bà M ông C số tiền 593.355.000đ tiền gốc cùng lãi suất tương ứng với thời gian theo pháp luật quy như sau:
- Số tiền 40.000.000đ, thời gian tính từ ngày 12/8/2006 (Âm lịch) đến khi xét xử vụ án.
- Số tiền 53.355.000đ và 500.000.000đ tính từ ngày 13/12/2006 đến khi xét xử vụ án.
*Bị đơn vợ chồng bà Q ông P và bà H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 12/12/2006, vợ chồng bà M ông C và vợ chồng bà Q ông P ký Giấy thỏa thuận đề ngày 12/12/2006 với nội dung: Bà Q ông P đồng ý sang tên sổ đỏ cho bà M ông C để bà M ông C tạo cho vợ chồng bà Q ông P số vốn 500.000.000đ. Sau khi vợ chồng bà Q ông P trả đủ vốn thì vợ chồng bà M ông C phải làm lại sổ đổi tên lại cho vợ chồng bà Q ông P. Giấy này vợ chồng bà M ông C và vợ chồng bà Q ông P cùng ký không có ai làm chứng. Khi làm giấy này bà M chưa đưa tiền cho vợ chồng bà Q ông P.
Sau đó hai bên làm thêm một giấy cam kết thỏa thuận, với nội dung bà M ông C có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông bà Q, P và bà Q ông P có mượn của bà M ông C 500.000.000đ. Sau khi bà Q ông P trả hết nợ cho bà M ông C thì bà M ông C có trách nhiệm chuyển giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho vợ chồng bà Q ông P. Giấy này ông P, bà Q, bà M, ông C cùng ký nhưng không đề ngày tháng, không ai làm chứng.
Sau khi làm giấy thỏa thuận không đề ngày tháng xong thì bà M đánh máy lại giấy thỏa thuận khác và ông P, bà Q có ký tên giấy này. Theo giấy thỏa thuận, nếu sau hai năm bà Q ông P không trả hết nợ cho bà M ông C thì bà M ông C được toàn quyền sử dụng hai lô đất và tài sản trên đất.
Tuy nhiên, sau khi ký xong thì ông P thừa nhận viết thêm phía dưới với nội dung: đến 02 năm, nếu bà Q ông P trả bớt 50.000.000 đồng đến 100.000.000đ thì bà Q ông P vẫn còn quyền sử dụng đất.
Ngày 13/12/2006, vợ chồng bà M ông C và vợ chồng bà Q ông P đến UBND xã B, huyệ n X làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai lô đất tọa lạc tại xã B, huyệ n X sang tên cho bà M ông C và bà M ông C cất giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là:
- Lô thứ nhất diện tích 177,2m2 thửa số 544, tờ bản đồ số 30 (Số liệu số hóa theo bản đồ năm 2005 như sau: diện tích 154,4m2 thửa số 180, tờ bản đồ số 50) trên đất có một căn nhà cấp 4 nền gạch bông, xi măng, mái lợp tôn kẽm.
- Lô thứ hai diện tích 243m2 thửa số 218, tờ bản đồ số 50, trong đó có 150m2 đất thổ cư và một căn nhà nền gạch bông và mái lợp tôn xi măng.
Trước yêu cầu khởi kiện của bà M ông C thì vợ chồng bà Q ông P có quan điểm:
- Đồng ý trả cho bà M ông C tổng số tiền là 93.355.000đ (Chín mươi ba triệu, ba trăm năm mươi lăm ngàn đồng). Trong đó bao gồm: số tiền 40.000.000đ vay ngày 12/8/2006 (âm lịch); số tiền gốc 50.000.000đ, số tiền lãi 3.355.000đ mà bà M ông C trả cho Ngân hàng N–Chi nhánh huyệ n X ngày 13/6/2006.
- Không đồng ý trả cho bà M ông C số tiền 500.000.000đ, vì bà M ông C chưa giao số tiền này cho bà Q ông P.
- Buộc bà M ông C phải giao trả cho vợ chồng bà Q ông P nhà đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 617951 do UBND huyệ n X cấp ngày 03/4/2006 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 812444 do UBND huyệ n X cấp ngày 12/12/2005.
* Bà Nguyễn Thị T, ông Dương Quỳnh G, ông Nguyễn C1, bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Bà T, ông G, ông C1, bà T2 cùng thừa nhận việc ở trên đất tranh chấp trước đây là do vợ chồng bà Q ông P cho ở nhờ, khi nào vợ chồng bà Q ông P yêu cầu trả lại nhà thì sẽ trả lại.
* Ngân hà ng N Chi nhánh huyệ n X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trình bày:
Trước đây, DNTN C có địa chỉ tại ấp G, xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu do bà Ngô Thị Thanh M đại diện theo pháp luật có vay tiền của Ngân hàng N– Chi nhánh huyệ n X, thế chấp cho Ngân hàng nhiều Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó có:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 617951 ngày 03/4/2006, đứng tên bà Q ông P đã sang tên cho bà M ông C vào ngày 21/12/2006.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 812444 ngày 12/12/2005, đứng tên bà Q ông P đã sang tên cho bà M ông C vào ngày 21/12/2006.
Ngân hàng N–Chi nhánh huyệ n X đã trả lại cho bà Ngô Thị Thanh M hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không còn liên quan đến vụ án này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm lần 2 số: 80/2017/DSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyệ n X áp dụng các Điều 33, 25 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 471, 474, 476, 305 Bộ luật dân sự; Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M ông C đối với vợ chồng bà Q ông P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Buộc vợ chồng bà Q ông P có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà M ông C tổng số tiền là 1.128.606.000đ (Một tỷ, một trăm hai mươi tám triệu, sáu trăm lẽ sáu ngàn đồng). Trong đó số tiền gốc 593.355.000đ (Năm trăm chín mươi ba triệu, ba trăm năm mươi lăm ngàn đồng), số tiền lãi 593.355.000đ (Năm trăm chín mươi ba triệu, ba trăm năm mươi lăm ngàn đồng).
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng bà Q ông P với bên nhận chuyển nhượng là bà M ông C đối với diện tích 243m2 thửa số 218, tờ bản đồ số 50, trong đó có 150m2 đất thổ cư; tọa lạc tại xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu được Ủy ban nhân dân xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu chứng thực ngày 13/12/2006.
3. Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà Q ông P với bên nhận chuyển nhượng là bà M ông C đối với diện tích 154,4m2 thửa số 180, tờ bản đồ số 50; tọa lạc tại xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu được Ủy ban nhân dân xã B, huyệ n X, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu chứng thực ngày 13/12/2006.
4. Buộc bà M ông C phải giao trả cho vợ chồng bà Q ông P:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 617951 do UBND huyệ n X cấp ngày 03/4/2006, đứng tên bà Q ông P và ngày 21/12/2006 đã chuyển sang tên bà M ông C.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 812444 do UBND huyệ n X cấp ngày 12/12/2005, đứng tên bà Q ông P và ngày 21/12/2006 đã chuyển sang tên bà M ông C.
5. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí giám định, án phí, quyền kháng cáo và thời hiệu thi hành bản án theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/01/2018, bà Q ông P có đơn kháng cáo sửa bản án dân sự sơ thẩm số 80/2017/DS-ST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyệ n X . Lý do kháng cáo do bản án không khách quan, không đánh giá đúng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Yêu cầu Tòa án phúc thẩm tuyên sửa bản án sơ thẩm và xem xét lại toàn bộ yêu cầu trong đơn khởi kiện.
Ngày 21/3/2018, vợ chồ ng bà Q ông P có đơn khá ng cá o bổ sung , yêu cầ u Tòa án cấp phúc thẩm s
ửa bả n á n dân sự s
ơ thẩm số 80/2017/DS-ST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyệ n X:
- Tuyên bá c yêu cầ u kh
ởi kiệ n củ a nguyên đ
ơn về việ c đò i bị đ
ơn 500.000.000đ.
- Tuyên hủ y hợp đồ ng chuyể n nhượng quyề n sử dụng 02 thửa đấ t số 180, 218 tờ bản đồ 50 xã B giữa vợ chồ ng ông P bà Q với vợ chồ ng ông C bà M chứng thực ngày 13/12/2006 do đây là h ợp đồ ng có điề u kiệ n (chuyể n nhượng quyề n s ử dụng đấ t để ông C bà M vay vố n ngân hà ng giú p v ợ chồ ng ông P bà Q) nhưng vì ông C bà M đã không thực hiện cam kết này nên đề nghị hủy hợp đồ ng.
- Tuyên hủ y cá c giấ y ch ứng nhậ n quyề n sử dụng 02 thửa đấ t số 180, 218 tờ bản đồ 50 xã B đứng tên ông C bà M.
- Tuyên vợ chồ ng ông P bà Q được quyề n liên hệ v ới cá c c ơ quan có thẩ m quyề n xin cấ p lạ i giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất cho mình.
- Vợ chồ ng ông P bà Q đồ ng ý trả cho v ợ chồ ng ông C bà M 02 khoản nợ: 40.000.000đ theo Hợp đồ ng cầ m đồ ngà y 12/8/2006 và 53.355.000đ trả n ợ Ngân hàng N (trong đó gố c 50.000.000đ và lã i 3.355.000đ) cùng tiền lãi phát sinh. Với lý do:
* Về nội dung:
1. Về khoả n tiề n 500 triệ u đồ ng: Trong hồ sơ thể hiện lời khai củ a bà M về khoản tiền 500 triệ u đồ ng là bấ t nhấ t. Bà Q ông P khẳ ng đị nh ông bà cầ n vố n là m ăn nên bà M ông C nói sang tên 02 sổ đỏ cho bà M ông C đứng tên để bà M ông C nhậ p chung v ới nhà đấ t củ a bà M ông C để vay đ ược nhiề u tiề n nên bà Q ông P đồ ng ý và hai bên m ới tiế n hà nh lậ p cá c giấ y cam kế t để sang tên sổ đỏ cho v ợ chồ ng bà M ông C đi vay tiề n cho bà Q ông P nhưng vợ chồ ng bà M ông C chưa giao tiề n cho v ợ chồ ng bà Q ông P. Nhà đất t ừ đó đế n nay vẫ n do v ợ chồ ng bà Q ông P quản lý, sử dụng.
2. Trong hồ sơ vụ án có đủ chứng cứ chứng minh vợ chồ ng bà Q ông P chỉ nợ vợ chồ ng bà M ông C 90 triệ u đồ ng tiề n gố c (gồ m 40 triệ u đồ ng theo hợp đồ ng cầ m đồ ngà y 12/8/2006) và 50 triệ u đồ ng trả n ợ Ngân hà ng N (ngoài ra còn 3.355.000 đồ ng tiề n lã i). Số nợ gố c 90 triệ u đồ ng nà y cũ ng đ ược nhắ c lạ i rấ t rõ trong “Giấ y cam kế t đã thỏ a thuậ n hai bên” ngà y 12/12/2006 mà vợ chồ ng bà M ông C đã ký , chứng tỏ số nợ này là có thật và đến thời điể m ngà y 12/12/2006, vợ chồ ng bà Q ông P chỉ nợ vợ chồ ng ông C bà M 90 triệ u đồ ng.
3. Vợ chồng bà Q ông P khẳ ng đị nh thứ tự lầ n lượt cá c giấ y cam kế t được lậ p như sau:
- Đầu tiên bà M viế t “Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n hai bên” không đề ngà y thá ng đưa cho bà Q ông P ký. Sau khi ký xong, đọ c lạ i thấ y không đú ng và không đầ y đủ nộ i dung như hai bên đã thỏ a thuậ n nên ông P viế t lạ i “Giấ y cam kế t đã thỏ a thuậ n hai bên” ngà y 12/12/2006. Khi viế t ông P chừa chỗ trố ng cá c thông tin về phí a ông C bà M và số tiền … để bà M điề n sau. Theo thỏ a thuậ n thì sau khi ông C bà M đã được đứng tên trên giấ y ch ứng nhậ n quyề n sử dụng hai thửa đấ t của vợ chồ ng bà Q ông P thì ông C bà M có trách nhiệm vay ngân hàng và tạ o vố n là m ăn cho v ợ chồ ng bà Q ông P 500 triệ u đồ ng để buôn bá n hoặ c đổ i vé trú ng . Trong đó , ông C bà M nói sẽ vay ngân hàng 300 triệ u đồ ng cho v ợ chồ ng bà Q ông P (trả lãi theo ngân hà ng), còn 200 triệ u đồ ng là tiề n củ a ông C bà M cho vay (trả lãi theo thỏa thuậ n riêng) nên bà Q ông P viế t thêm và o giấ y là “Khi giao tiề n vay vố n ngân hà ng 300 triệ u hoặ c tiề n trả lã i ngân hà ng , hai bên phả i là m giấ y giao và nhậ n hai bên ký tên và o giấ y”.
- Trong quá trình lập giấy cam kết này, cả vợ chồ ng bà Q ông P và bà M dùng những chiế c bú t khá c nhau để viế t và điề n thêm nh ững chỗ cò n thiế u nên giấ y nà y có nhiều nét ch ữ và màu mực khá c nhau nh ư kế t luậ n giá m đị nh đã nêu ch ứ không phải tôi (ông P) viế t thêm mà v ợ chồ ng bà M không biế t. Việ c viế t thêm nà y ông P viế t ngay tr ước mặ t v ợ chồ ng bà M ông C và vợ chồ ng bà M ông C cũng đồng ý . Bằ ng chứng là tạ i phiên hò a giả i ngà y 08/6/2010 bà M cũng xác nhận các nội dung viế t thêm là do tôi (ông P) viế t và bà M cũng đồng ý với nộ i dung viế t thêm củ a ông P.
- Sau đó , bà M lại thuê người đá nh má y thêm “Giấ y thỏ a thuậ n cam kế t” ghi ngày 12/12/2006 cũng với những nộ i dung tương tự là sang tên nhà đất để vay ngân hàng cùng các ph ương á n trả tiề n và đ ưa tới cho vợ chồ ng ông P bà Q ký. Tuy nhiên, tại bản án sơ thẩ m (trang 8) ghi hoà n toà n khá c với những lời khai nhấ t quá n của v ợ chồ ng ông bà t ừ trước đế n nay nh ưng lạ i kh ớp với lời khai củ a bà M tại phiên tò a phú c th ẩm ngà y 12/12/2011 với nộ i dung bà M thừa nhậ n là : Giấ y cam kế t không đề ngà y thá ng đ ược viế t tr ước, hai bên đã ký nh ưng không đú ng về nộ i dung nên ông P đã viế t lạ i “Giấ y cam kế t đã thỏ a thuậ n hai bên” ngà y 12/12/2006. Điề u nà y đã đ ược ghi nhậ n tạ i dò ng cuố i cù ng trang 6 của Bản án phúc thẩm số 97/2011 ngày 12/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
4. Thứ tư, về thực tế bà M là người là m nghề chuyên cho vay lấ y lã i . Bằ ng chứng là khi vợ chồ ng ông C bà M cho vợ chồ ng ông bà vay 40 triệ u đồ ng và o ngà y 12/8/2006 (âm lị ch) thì bà M lậ p ngay h ợp đồ ng cầ m đồ theo mẫ u đá nh má y sẵ n , trong đó có đầ y đủ nộ i dung củ a hợp đồ ng vay tiề n và có tà i sả n thế chấ p là 01 Giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất của v ợ chồ ng ông bà . Vì thế không có lý do gì khi cho vợ chồ ng ông bà vay t ới 500 triệ u đồ ng mà bà M lại không lậ p “Giấ y cho vay tiề n” hay “h ợp đồ ng vay tiề n” mà lạ i phả i viế t vò ng vo bằ ng “Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n hai bên” . Toàn bộ nội dung của giấy không hề mang thông tin của một h ợp đồ ng vay tiề n nh ư: tên người cho vay, tên người vay, lãi suất, thời hạ n vay và đặ c biệ t là không đề ngà y thá ng . Chính việc không có ngày tháng này khiến cho không thể xá c đị nh đ ược thời điể m vay để tí nh lã i và cũ ng không xá c đị nh đ ược khoả n nợ này nếu có thì còn thời hiệ u khởi kiệ n hay không.
5. Mặ t khá c, khi ký cá c giấ y cam kế t nó i trên , 01 giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất của ông bà đang được cầ m tạ i nhà bà M để vay 40 triệ u đồ ng (có hợp đồ ng cầ m đồ ), còn 01 giấ y đang thế chấ p tạ i Ngân hà ng N – Phòng giao dịch B vay 50 triệ u đồ ng, nên ngà y hôm sau hai bên m ới đế n Ngân hà ng để bà M nộ p tiề n thay vợ chồ ng ông bà để lấ y giấ y ch ứng nhậ n quyề n sử dụng đất ra và đến UBND xã B làm thủ tục. Đế n ngà y 21/12/2006 thì vợ chồ ng ông bà m ới sang tên giấ y ch ứng nhậ n quyề n sử dụng đất cho vợ chồ ng bà M ông C. Như thế không thể có chuyệ n bà M đã giao ngay cho vợ chồ ng ông bà 500 triệ u đồ ng và o ngà y 12/12/2006 khi mà hai bên mới chỉ viết giấy cam kết thỏa thuận mà chưa tiế n hà nh bấ t kỳ thủ tụ c nà o.
6. Theo cam kế t , sau khi hai bên ký giấ y sang tên nhà đấ t thì trong vò ng 50 ngày bà M ông C phải vay ngân hàng giao cho v ợ chồ ng ông bà 300 triệ u đồ ng nhưng sau khi sang tên nhà đấ t m ới được 20 ngày thì bà M bị công an huyệ n X bắ t giam về tộ i “bắ t có c nhằ m chiế m đoạ t tà i sả n” mà bà vẫ n ch
ưa giao tiề n cho v ợ chồ ng ông bà . Vợ chồ ng ông bà có đi tì m ông C để hỏi thì ông C nói không biế t, chờ bà M về giả i quyế t. Ngày 02/9/2009, bà M được ra tù v ợ chồ ng ông bà đã đế n tìm bà M yêu cầ u hoặ c giao tiề n hoặ c trả lạ i giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất cho vợ chồ ng ông bà nhưng bị bà M từ chố i và nó i rằ ng đấ t củ a ông bà đã bị bá n . Ngày 08/11/2009, ông bà gửi đơn đế n UBND xã B yêu cầ u bà M hoặ c phả i giao tiề n hoặ c phải giao trả giấy ch ứng nhậ n quyề n s ử dụng đất cho ông bà . Ngày 29/12/2009, tổ hòa giải đã tiến hành hò a giả i đơn khởi kiệ n nhưng không thà nh. Ngày 04/01/2010, UBND xã B đã lậ p phiế u chuyể n hồ s ơ đến TAND huyệ n X nhưng không biế t vì sao TAND huyệ n X lại thụ lý đơn củ a bà M chứ không thụ lý đơn khởi kiệ n củ a vợ chồ ng ông bà .
7. Theo kế t quả xá c minh củ a Tò a á n cá c cấ p thì trong suố t th ời gian kể từ khi hai bên ký cam kế t cho đế n ngà y v ợ chồ ng ông bà kh ởi kiệ n vợ chồ ng bà M ông C thì bà M không đi vay ngân hà ng và cũ ng không có ch ứng cứ nào chứng minh vợ chồ ng bà M ông C đã giao tiề n cho v ợ chồ ng ông bà . Vì vậy, bản án sơ thẩ m tuyên buộ c vợ chồ ng ông bà phả i trả cho vợ chồ ng ông C bà M 500 triệ u đồ ng là không có cơ sở.
* Về tố tụng:
- Bản án sơ thẩ m tuyên hủ y h ợp đồng chuyển nh ượng 02 thửa đấ t số 218 và 180 tờ bản đồ 50 tọa lạc xã B, huyệ n X đã ký ngà y 13/12/2006 giữa hai bên nguyên đơn và bị đ ơn nhưng lạ i không tuyên hủ y 02 giấ y chứng nhậ n quyề n s ử dụng đất mang tên bà Ngô Thị Thanh M và ông Phạm Công C là không hợp lý .
- Trong quá trì nh vụ á n đ ược giả i quyế t, nguyên đơn đã rú t yêu cầ u kh ởi kiệ n tranh chấ p h ợp đồ ng chuyể n nh ượng quyề n s ử dụng đất chuyển thành tranh chấp hợp đồ ng vay tà i sả n , có nghĩa là 02 thửa đấ t không cò n là đố i t ượng tranh chấ p và cũng không phải là tài sản thế chấp cho h ợp đồ ng vay tiề n. Vì vậy, khi Tò a á n tuyên hủy hợp đồ ng chuyể n nh ượng quyề n s ử dụng hai thửa đấ t thì đồ ng th ời cũ ng phả i tuyên hủ y hai giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất mang tên bà Ngô Thị Thanh M và ông Phạ m Công C mới hợp lý . Giữa hai bên bị đ ơn và nguyên đơn không mua bá n, chuyể n nhượng đấ t nên không thể tuyên buộ c ông bà “liên hệ v ới cá c c ơ quan có thẩ m quyề n để là m thủ tục chuyển quyền sử dụng đất” như bản án sơ thẩ m đã tuyên mà phải tuyên hủy hai giấy ch ứng nhậ n quyề n s ử dụng đất mang tên bà Ngô Thị Thanh M và ông Phạm C ông C và tuyên cho v ợ chồ ng ông bà có quyề n liên hệ c ơ quan có thẩ m quyề n để là m lạ i giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất đứng tên ông bà .
- Việ c vợ chồ ng ông bà lậ p giấ y cam kế t thỏ a thuậ n chuyể n quyề n s ử dụng đấ t cho ông C bà M là để vay vốn Ngân hàng nh ưng bà M ông C đã không th ực hiệ n đú ng cam kế t , không vay tiề n cho v ợ chồ ng ông bà nên h ợp đồ ng giao dị ch có điề u kiệ n đã không xả y ra. Nay hai bên đã khởi kiệ n ra Tò a và bà M cũng đã rút yêu cầ u tranh chấ p quyề n s ử dụng đất nên các tờ cam kế t nà y không cò n giá trị . Vì vậy, cầ n thiế t phả i tuyên hủ y cá c giấ y cam k ết nà y mới hợp lý . Bản án sơ thẩ m cho rằ ng vì “đây là nh ững tà i liệ u , chứng cứ làm căn c ứ giải quyết tranh chấp nên không tuyên hủ y” là không đú ng, vì bà M đã thay đổ i yêu cầ u kh ởi kiệ n thà nh “tranh chấ p hợp đồ ng vay ti ền” mà cá c giấ y cam kế t nà y không phả i là giấ y vay tiề n nên cầ n thiế t phả i hủ y mới đú ng.
- Về tiề n lã i : Bản án s ơ thẩ m không ghi rõ cá ch tính toán tiền lãi của t ừng khoản tiền mà chỉ ghi gộp chung tổng số tiền gốc là 593.355.000đ và lã i cũ ng bằ ng đú ng số tiề n gố c là 593.355.000đ. Như vậ y không thể biế t HĐXX s ơ thẩ m tí nh lã i đú ng hay sai.
Tại phiên tòa phúc thẩm lần 2: Sau khi nghe Hội đồng xét xử phúc thẩm giải thích, bà M (đồng thời đại diện theo ủy quyền của ông C) cùng với vợ chồng bà Q ông P; bà H đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà Q ông P và Luật sư N bảo vệ quyề n và lợi ích hợp phá p cho vợ chồng bà Q ông P đã thỏa thuận thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án như sau:
- Vợ chồng bà Q ông P đồng ý giao cho bà M (đồ ng thời là đạ i diệ n theo ủ y quyề n của ông C) 500.000.000đ (năm trăm triệ u đồ ng).
Kể từ ngày bên được quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho bên được thi hành án.
- Bà M (đồ ng thời là đạ i diệ n theo ủ y quyề n của ông C) đồ ng ý giao lạ i cho vợ chồ ng bà Q ông P diệ n tí ch đấ t nằ m trong 02 giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất như sau:
+ Diện tích đất 177,2m2 thuộc thửa số 544, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại xã B, huyệ n X do UBND huyệ n X cấ p ngày 12/12/2005 cho bà Q ông P theo Giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất số AD 812444. Đã chỉnh lý ngày 21/12/2006, tại “Mục VI, những thay đổ i sau khi cấ p giấ y c hứng nhậ n quyề n s ử dụng đất” , nội dung : Đã chuyể n nh ượng quyề n s ử dụng đất hết diện tích cho bà M ông C. Phầ n diệ n tí ch nhậ n chuyển nhượng theo số liệ u bả n đồ số hó a năm 2005 đã được điề u chỉ nh ngà y 27/02/2006 tại Mục 4, Giấy chứng nhậ n quyề n sử dụng đất số AD 812444 cấp ngày 12/12/2005 là 154,5m2 thửa 180 tờ bản đồ 50 tọa lạc tại xã B, huyệ n X.
+ Diện tích đất 243m2 thuộc thửa số 218, tờ bản đồ số 50 tọa lạc tại xã B, huyệ n X do UBND huyệ n X cấp ngày 03/4/2006 cho bà Q ông P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 617951. Đã chỉnh lý ngà y 21/12/2006 tại “Mục VI: những thay đổ i sau khi cấ p giấ y ch ứng nhậ n quyề n s ử dụng đất” , nội dung : Đã chuyể n nh ượng quyề n s ử dụng đất hết d iệ n tí ch cho bà M ông C. Phầ n diệ n tí ch nhậ n chuyể n nh ượng, số liệ u, thông tin cụ thể tạ i phầ n II trang 2 Giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất số AĐ 617951 cấ p ngà y 03/4/2006.
- Việc vợ chồng bà Q ông P giao 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) cho bà M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông C), được thực hiện đồng thời cùng một lúc với việc bà M (đồng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông C) thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng 02 thửa đất theo Giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất số AD 812444 ngày 12/12/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 617951 ngày 03/4/2006 từ bà M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông C) sang cho vợ chồng bà Q ông P.
- Bà M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông C) và vợ chồ ng bà Q ông P xác định: Việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa bà M và ông C với vợ chồ ng bà Q ông P đã được giải quyết xong, đôi bên không còn bất cứ khiếu nại thắc mắc gì về sau. Bà M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông C) và vợ chồ ng bà Q ông P xác định 05 văn bản thỏa thuận giữa bà M ông C với vợ chồ ng bà Q ông P lập trước đây không còn giá trị pháp lý là:
+ “Hợp đồng cầm đồ” lập ngày 12/8/2006 (âm lịch), (bản chính - bút lục 101 TA).
+ “Giấy công nhận nợ” lập ngà y 02/11/2006 (âm lị ch) (phô tô + bản chính - bút lục 17 TA).
+ “Giấy thỏa thuận cam kết” lập ngày 12/12/2006 (bản chính đánh máy - bút lục 42 TA).
+ “Giấ y cam kế t đã thỏ a thuậ n 2 bên” lập ngà y 12/12/2006 (bản chính viế t tay - bút lục 46 TA).
+ “Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n gi ữa (2 bên)” không đề ngà y thá ng năm (bản chính viế t tay - bút lục 44).
- Về á n phí có giá ngạ ch : Tổng cộng 24.000.000đ (hai mươi bố n triệ u đồ ng ). Bà M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủ y quyề n của ông C) tự nguyện chị u 12.000.000đ (mười hai triệ u đồ ng ); vợ chồ ng bà Q ông P tự nguyện chị u 12.000.000đ (mười hai triệ u đồ ng).
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Về tố tụng, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật. Về nội dung, tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Quá trình Tòa án nhân dân huyệ n X thụ lý giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm lần 2 thì bà M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủ y quyề n của ông C) đã tất toán nợ theo Hợp đồng tín dụng số 56/HĐTD ngày 11/01/2011 tại Ngân hà ng N - Chi nhánh huyệ n X nên Ngân hàng NVN–Chi nhánh huyệ n X đã giải chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 617951 ngày 03/4/2006, đứng tên bà Q ông P đã sang tên bà M ông C vào ngày 21/12/2006 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 812444 ngày 12/12/2005, đứng tên bà Q ông P đã sang tên bà M ông C vào ngày 21/12/2006, sau đó bà M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủ y quyề n của ông C) đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, nhưng Tòa án nhân dân huyệ n X vẫn đưa Ngân hàng N–Chi nhánh huyệ n X và các ông bà T, G, C1, T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm lần 02 vào ngày 24/7/2016, Ngân hàng N–Chi nhánh huyệ n X và các ông bà T, G, C1, T2 vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của các đương sự này không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ các các đương sự khác trong vụ án, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M (đồng thời đại diện theo ủy quyền của ông C) cùng với vợ chồng bà Q ông P; bà H đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà Q ông P và Luật sư N bảo vệ quyền và lợi í ch hợp phá p cho vợ chồng bà Q ông P đã thỏa thuận thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm theo nội ghi nhân nêu trên.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Vợ chồng bà Q ông P phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 300; Khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tuyên xử:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa Bản án dân sự sơ thẩm lần 2 số: 80/2017/DSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyệ n X như sau:
1. Vợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q đồ ng ý giao cho bà Ngô Thị Thanh M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủ y quyề n của ông Phạ m C ông C) 500.000.000đ (năm trăm triệ u đồ ng).
Kể từ ngày bên được quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho bên được thi hành án.
2. Bà Ngô Thị Thanh M (đồ ng th ời đạ i diệ n theo ủ y quyề n của ông Phạ m Công C) đồ ng ý giao lạ i cho v ợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q diệ n tí ch đấ t nằ m trong 02 giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất như sau:
- Diện tích đất 177,2m2 thuộc thửa số 544, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại xã B, huyệ n X do UBND huyệ n X cấ p ngày 12/12/2005 cho bà Đoàn Thị Q ông Nguyễn P theo Giấ y ch ứng nhậ n quyề n s ử dụng đất số AD 812444. Ngày 21/12/2006, đã chỉnh lý tạ i “Mục VI , những thay đổ i sau khi cấ p giấ y ch ứng nhậ n quyề n s ử dụng đấ t”, nội dung: Đã chuyể n nhượng quyề n sử dụng đất hết diện tích cho bà Ngô Thị Thanh M, sinh năm 1976 và ông Phạm Công C, sinh năm 1974. Phầ n diệ n tí ch nhậ n chuyển nhượng theo số liệ u bả n đồ số hó a năm
2005 đã đ ược điề u chỉ nh ngà y 27/02/2006 tại Mục 4, Giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất số AD 812444 cấp ngày 12/12/2005 là 154,5m2 thửa 180 tờ bản đồ 50 tọa lạc tại xã B, huyệ n X.
- Diện tích đất 243m2 thuộc thửa số 218, tờ bản đồ số 50 tọa lạc tại xã B , huyệ n X do UBND huyệ n X cấp ngày 03/4/2006 cho bà Đoàn Thị Q ông Nguyễn P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 617951. Ngày 21/12/2006 đã chỉnh lý tại “Mục VI: những thay đổ i sau khi cấ p giấ y ch ứng nhậ n quyề n s ử dụng đất”, nội dung: Đã chuyể n nhượng quyề n sử dụng đất hết diện tích cho bà Ngô Thị Thanh M, sinh năm 1976 và ông Phạm C ông C, sinh năm 1974. Phầ n diệ n tí ch nhậ n chuyể n nhượng, số liệ u, thông tin cụ thể tạ i phầ n II trang 2 Giấ y chứng nhậ n quyề n sử dụng đất số AĐ 617951 cấ p ngà y 03/4/2006.
3. Vợ chồng bà Đoàn Thị Q ông Nguyễn P giao 500.000.000đ (năm trăm triệ u đồ ng) cho bà Ngô Thị Thanh M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông Phạm Công C), được thực hiện đồng thời cùng một lúc với việc bà Ngô Thị Thanh M (đồng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông Phạm Công C) thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng 02 thửa đất theo Giấ y ch ứng nhận quyền s ử dụng đất số AD 812444 ngày 12/12/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 617951 ngày 03/4/2006 từ bà Ngô Thị Thanh M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông Phạm Công C) sang cho Vợ chồng bà Đoàn Thị Q ông Nguyễn P.
4. Bà Ngô Thị Thanh M (đồ ng th ời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông Phạm Công C) và vợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q xác định: Việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa bà Ngô Thị Thanh M và ông Phạm Công C với vợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q đã được giải quyết xong, đôi bên không còn bất cứ khiếu nại thắc mắc gì về sau. Bà M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông C) và vợ chồ ng bà Q ông P xác định 05 văn bản thỏa thuận giữa bà M ông C với vợ chồ ng bà Q ông P lập trước đây không còn giá trị pháp lý là:
- “Hợp đồng cầm đồ” lập ngày 12/8/2006 (âm lịch), (bản chính - bút lục 101 TA).
- “Giấy công nhận nợ” lập ngà y 02/11/2006 (âm lị ch) (bản phô tô + bản chính
- bút lục 17 TA).
- “Giấy thỏa thuận cam kết” lập ngày 12/12/2006 (bản chính đánh máy - bút lục 42 TA).
- “Giấ y cam kế t đã thỏ a thuậ n 2 bên” lập ngà y 12/12/2006 (bản chính viết tay
- bút lục 46 TA).
- “Giấ y cam kế t thỏ a thuậ n gi ữa (2 bên)” không đề ngà y thá ng nă m (bản chính viế t tay - bút lục 44).
5. Về chi phí giám định: Bà Ngô Thị Thanh M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông Phạm Công C) và vợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q tự nguyện chịu chi phí giám định theo yêu cầu của mỗi bên đã nộp tạm ứng trước đây và đã nộp đủ.
6. Về á n phí :
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bà Ngô Thị Thanh M (đồ ng th ời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông Phạm Công C) tự nguyện chị u 12.000.000đ (mười hai triệ u đồ ng ), khấu trừ 7.500.000đ (Bảy triệu, năm trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Ngô Thị Thanh M (đồ ng thời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông Phạm Công C) đã nộp theo Biên lai thu số: 002489 ngày 21/01/2010 của Chi cục Thi hành án dân sự huyệ n X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nên bà Ngô Thị Tha nh M (đồ ng th ời đạ i diệ n theo ủy quyền của ông Phạm Công C) phải nộp tiếp 4.500.000đ (Bố n triệ u năm trăm ngà n đồ ng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
+ Vợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q tự nguyện chịu 12.000.000đ (mười hai triệ u đồ ng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Vợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), khấu trừ 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm vợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q đã nộp theo Biên lai thu số: TU/2016/0007302 ngày 09/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyệ n X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Như vậy vợ chồ ng ông Nguyễ n P bà Đoà n Thị Q đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 24/7/2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh BR-VT; -TAND huyệ n X; -Chi cục THADS huyệ n X; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Thị Quang |