vanban.org

Bản án 56/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh H đƣợc ly hôn với bà Trần Thị Cẩm G.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 21/12/2012 cho ông Nguyễn Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông H không yêu cầu bà G cấp dƣỡng nuôi con. Sau ly hôn, ông H và bà G đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa ông Nguyễn thanh H và bà Trần Thị Cẩm G"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh H đƣợc ly hôn với bà Trần Thị Cẩm G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 56/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2017
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

2. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 279/2017/TLST-HNGĐ 19/4/2017 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 58/2017/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2017, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978; thƣờng trú: Số 18/5 đƣờng Nguyễn H, khu phố T2, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Cẩm G, sinh năm 1991; thƣờng trú: Số 18/5 đƣờng Nguyễn H, khu phố T 2, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2017 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu nhau gần 01 năm, ông Nguyễn Thanh H và bà Trần Thị Cẩm G tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 27/4/2012, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 96/2012. Sau khi kết hôn, ông và bà G sống tại phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng tháng 5 năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà G thay đổi tính tình, thƣờng xuyên cãi nhau. Bà G không quan tâm, chăm sóc chồng, con và gia đình. Ông H đã nhiều lần góp ý với bà G nhƣng không có kết quả, ông và bà G đã sống ly thân từ tháng 11/2014 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông H yêu cầu đƣợc ly hôn với bà G.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 21/12/2012. Hiện nay con đang sống chung với ông H. Sau khi ly hôn, ông H yêu đƣợc đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu bà G cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trần Thị Cẩm G đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng bà G không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh H thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn có địa chỉ thƣờng trú và sinh sống tại phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã D theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Ngày 31/7/2017 nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 12/7/2017 và ngày 31/7/2017 nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh H và bà Trần Thị Cẩm G đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 27/4/2012, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 96/2012, là hôn nhân hợp pháp. Ông H cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà G thay đổi tính tình, thƣờng xuyên cãi nhau. Bà G không quan tâm, chăm sóc chồng, con và gia đình. Ông H đã cố gắng khuyên bà G thay đổi để gia đình hạnh phúc nhƣng không có kết quả. Ông và bà G đã sống ly thân từ tháng 11/2014 đến nay, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông Nguyễn Thanh Hvà bà Trần Thị Cẩm G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, ông Nguyễn Thanh H yêu cầu đƣợc ly hôn với bà Trần Thị Cẩm G là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Ông H và bà G có 01 ngƣời con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 21/12/2012. Hiện nay con đang sống chung với ông H. Xét thấy, trong thời gian trƣớc đây và hiện nay cháu N do ông H trực tiếp nuôi dƣỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Do đó, ông H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông H không yêu cầu bà G cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của ông nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh H đƣợc ly hôn với bà Trần Thị Cẩm G.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 21/12/2012 cho ông Nguyễn Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông H không yêu cầu bà G cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, ông H và bà G đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trƣờng hợp bà G lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến ông H nuôi con thì ông H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà G theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009220, ngày 18/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

5. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt các đƣơng sự.

6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ