vanban.org

Bản án 56/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Văn Ngọc C, cụ thể tuyên:

Về hôn nhân: Bà Văn Ngọc C được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Bà Văn Ngọc C là người trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Khôi N, sinh ngày 05/9/2002, ghi nhận vi c bà Văn Ngọc C không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Văn Ngọc C - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Văn Ngọc C, cụ thể tuyên:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 21/9/2017
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Ninh

2. Bà Nguyễn Thị Hiền

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga – Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2017 về vi c “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Văn Ngọc C, sinh năm 1971

Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

2. Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968

Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 05/5/2017, bản tự khai cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Văn Ngọc C trình bày:

Bà và và ông Nguyễn Văn T kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã BT (nay là thành phố BT), tỉnh Bến Tre vào ngày 31/10/2001. Hôn nhân do tự nguy n.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu sống hạnh phúc. Nhưng đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T thường xuyên đi uống rượu, không có trách nhi m lo cho gia đình. Bà đã khuyên can nhiều lần nhưng ông T vẫn không sửa đổi. Bà và ông T đã ly thân 05 năm nay.

Trong quá trình hôn nhân, bà và ông T có một con chung tên Nguyễn Ngọc Khôi N, sinh ngày 05/9/2002.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Nay bà yêu cầu:

Về hôn nhân: Xin được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà xin được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời ông T đến để tiến hành hòa giải nhưng ông T vẫn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.

Ý kiến của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Về vi c tuân theo pháp luật: những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn tuân thủ đúng quy định. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, căn cứ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Văn Ngọc C và ông Nguyễn Văn T kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã BT (nay là thành phố BT), tỉnh Bến Tre vào ngày 31/10/2001. Hôn nhân do tự nguy n. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo v .

Bà C cho rằng sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2005 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà yêu cầu xin được ly hôn.

Xét đây là vụ án xin ly hôn, bị đơn đang cư trú tại thành phố Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời ông T đến để tiến hành hòa giải nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù Tòa án đã tri u tập hợp l đến lần thứ hai nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà C và ông T phát sinh từ năm 2005 nhưng cho đến nay cả hai không tìm cách tháo gỡ được mà ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Bà C cho rằng ông T thường xuyên đi uống rượu, không chăm lo cho gia đình, bà xác định không còn tình cảm với ông T nên xin được ly hôn. Tòa án đã nhiều lần mời ông T đến để hòa giải, hàn gắn gia đình nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt. Bà C và ông T cũng đã ly thân 05 năm nay. Đồng thời, theo biên bản xác minh ngày 30/7/2017, hàng xóm của gia đình bà C và ông T cho biết bà C và ông T thường cự cãi, thường là ông T đi uống rượu về có lời lẽ lớn tiếng cự cãi. Còn tổ trưởng tổ G của khu phố C, phường H, thành phố BT nơi bà C và ông T đang sinh sống thì cho biết “bà C và ông T phát sinh mâu thuẫn khoảng 03 năm nay, thường xuyên cự cãi. Tuy sống chung một nhà nhưng bà C và ông T đều có cuộc sống riêng, bà C có công vi c riêng, làm lo cho con; ông T cũng có công vi c riêng, thường xuyên đi uống rượu, khuya mới về nhà”.

Như vậy, ông T đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân giữa hai bên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là bi n pháp tốt nhất cho cả hai.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà C và ông T có một con chung tên Nguyễn Ngọc Khôi N, sinh ngày 05/9/2002. Bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hi n hay cháu N vẫn còn nhỏ, nguy n vọng của cháu là muốn sống với mẹ, do đó vi c để bà C tiếp tục nuôi dưỡng cháu N là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Vì vậy, xét yêu cầu của bà C xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp nên được chấp nhận. Ghi nhận vi c bà C không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà C khai tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà C phải nộp.

Ý kiến của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Văn Ngọc C, cụ thể tuyên:

1. Về hôn nhân: Bà Văn Ngọc C được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Bà Văn Ngọc C là người trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Khôi N, sinh ngày 05/9/2002, ghi nhận vi c bà Văn Ngọc C không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Văn T được quyền đến thăm chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con

3. Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Văn Ngọc C phải nộp nhưng được khấu trừ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010819 ngày 12/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án bà Văn Ngọc C được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Riêng ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa hôm nay được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ