vanban.org

Bản án 557/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị M.

Về hôn nhân: Bà Bùi Thị M được ly hôn với ông Hồ Bé Ch. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 152 ngày 11/9/2014 của Ủy ban dân xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 557/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 06 - 12 - 2022
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Giữ;

Bà Lương Thảo Vy.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 429/2022/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 422/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị M, sinh năm 1994. (Xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Cò Ch, xã Lộc Th, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh Hoá.

- Bị đơn: Ông Hồ Bé Ch, sinh năm 1994. (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp Chánh H, xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Bùi Thị M trình bày: Bà M và ông Bé Ch tự tìm hiểu và chung sống năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình L, huyện CP. Sau khi cưới cuộc sống ban đầu hạnh phúc một thời gian, sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả nhau, vợ chồng đã ly thân hơn 01 năm nay. Nay không còn tình cảm nên bà M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Bé Ch. Con chung có 02 con chung tên Hồ Thị Diễm M, sinh ngày 01/01/2015 hiện đang ở với ông Bé Ch; Hồ Chính Ngh, sinh ngày 15/8/2018 hiện đang sống với bà M, ly hôn bà M yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Chính Ngh, đồng ý giao cháu M cho ông Bé Ch tiếp tục nuôi, bà M không yêu cầu ông Bé Ch cấp dưỡng nuôi cháu Chính Ngh và không cấp dưỡng nuôi cháu M. Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: không có.

Đối với bị đơn ông Hồ Bé Ch, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông Bé Ch vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Bé Ch.

Bà M có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Bé Ch vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà M và ông Bé Ch đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà M yêu cầu ly hôn với ông Bé Ch là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Hồ Thị Diễm M, sinh ngày 01/01/2015 hiện đang ở với ông Bé Ch; Hồ Chính Ngh, sinh ngày 15/8/2018 hiện đang sống với bà M. Cháu M đang ở với ông Bé Ch ổn định và có nguyện vọng muốn ở với cha nên đề nghị giao cháu M cho ông Bé Ch được trực tiếp nuôi dưỡng. Còn cháu Chính Ngh đang ở ổn định với bà M và bà M có yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Chính Ngh nên đề nghị giao cháu Chính Ngh cho bà M được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M không cấp dưỡng nuôi con chung, ông Bé Ch không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Hồ Bé Ch có hộ khẩu thường trú tại xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang. Bà M khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn bà Bùi Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Hồ Bé Ch đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà M và ông Bé Ch chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cải vả và phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng đã ly thân hơn 01 năm. Hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà M xin ly hôn với ông Bé Ch. Quá trình giải quyết vụ án bà M kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy bà M đã kiên quyết ly hôn, Tòa án đã hòa giải cho ông bà đoàn tụ nhưng ông Bé Ch đều vắng mặt, đồng thời thời gian ly thân hơn 01 năm đến nay là một khoảng thời gian dài nhưng cả hai đều không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M.

- Về con chung: Bà M và ông Bé Ch chung sống có 02 con chung tên Hồ Thị Diễm M, sinh ngày 01/01/2015 hiện đang ở với ông Bé Ch; Hồ Chính Ngh, sinh ngày 15/8/2018 hiện đang sống với bà M. Xét, cháu M đang ở với ông Bé Ch ổn định và có nguyện vọng muốn ở với cha, bà M đồng ý giao cháu M cho ông Bé Ch tiếp tục nuôi, còn cháu Chính Ngh đang ở ổn định với bà M và bà M có yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Chính Ngh. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của con chung, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Hồ Thị Diễm M, sinh ngày 01/01/2015 cho ông Bé Ch được trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Hồ Chính Ngh, sinh ngày 15/8/2018 cho bà Bùi Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M, ông Bé Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu ông Bé Ch cấp dưỡng nuôi con chung, ông Bé Ch không ý kiến về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà M phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị M.

Về hôn nhân: Bà Bùi Thị M được ly hôn với ông Hồ Bé Ch.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 152 ngày 11/9/2014 của Ủy ban dân xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao con chung tên Hồ Thị Diễm M, sinh ngày 01/01/2015 cho ông Hồ Bé Ch được trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Hồ Chính Ngh, sinh ngày 15/8/2018 cho bà Bùi Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M không phải cấp dưỡng nuôi con chung, ông Bé Ch không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà M, ông Bé Ch cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về án phí: Bà Bùi Thị M phải chi ̣u 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) án phi

̀

́ Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) ta ̣m

̀ ứ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu số 0004791 ngày 28 tháng 9 năm 2022 của

́ Cu ̣c thi hành án dân sự huyện CP.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ