vanban.org

Bản án 556/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ch p nhận toàn b yêu cầu c a nguyên đơn, bà Juan Shih Chiu C:

Xác định ông Nguyễn Thế H – sinh ngày 18/5/1982 không phải là cha đẻ của trẻ Nguyễn Hoàng Gia G theo giấy khai sinh số 46 đăng ký ngày 18/8/2017 tại Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Juan Shih Chiu C được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cải chín…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Ch p nhận toàn b yêu cầu c a nguyên đơn, bà Juan Shih Chiu C:
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 128 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

N N N

CỘNG

XÃ ỘI C Ủ NG Ĩ VIỆ N M

ÀN P Ố Ồ C Í MIN

Độc lập - ự do - ạnh phúc Bản án: 556/2018/HNGĐ-ST Ngày: 18-6-2018 V/v tranh chấp xác định cha cho con

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG

XÃ ỘI C Ủ NG Ĩ VIỆ N M

N N N N

N N N - ÀN P Ố Ồ C Í MIN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Th m phán - Ch t a phiên tòa: Bà Bành Kim Phượng.

Các H i th m nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Tuân;

2. Bà Nguyễn Thị Lương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 443/2018/TLST-HNGĐ ngày 16/5/2018 về việc “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2018/QĐST-HNGĐ ngày 07/6/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Juan Shih Chiu C – sinh năm 1982;

Địa chỉ cư trú: đường U, Phường B, Khu L, thành phố T, Đài Loan;

Địa chỉ tạm trú: đường N, phường M, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Lê Thị Kim A – sinh năm 1976, địa chỉ: đường X, phường Q, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, văn bản ủy quyền ngày 14/5/2018; (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn hế – sinh năm 1982;

Địa chỉ: đường K, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh

(Có đơn xin vắng mặt).

NỘI NG V N:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa, phía nguyên đơn có bà Lê Thị Kim A là đại diện trình bày: Bà Juan Shih Chiu C và ông Nguyễn Thế H chung sống vợ chồng từ khoảng năm 2011, đến năm 2013 thì đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 2346 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/9/2013.

Năm 2012, bà Juan Shih Chiu C sinh 01 con gái đặt tên Nguyễn Hoàng Gia G, đến ngày 18/8/2017 bà C đăng ký khai sinh trễ hạn cho con tại Ủy ban nhân dân quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo giấy khai sinh của trẻ Nguyễn Hoàng Gia G sinh ngày 28/01/2012 thì trẻ G có mẹ tên là Juan Shih Chiu C – sinh ngày 10/11/1982 và cha tên là Nguyễn Thế H – sinh ngày 18/5/1982. Tuy nhiên, trên thực tế thì ông H không phải là cha đẻ của trẻ G.

Trong quá trình làm thủ tục bảo lãnh cho trẻ G đi học ở Đài Loan, cơ quan xét duyệt hồ sơ yêu cầu phải giám định DNA đối với cha và mẹ trẻ G. Bà C lo rằng khi ra kết quả giám định thì hồ sơ bảo lãnh sẽ bị từ chối nên đã nhiều lần yêu cầu ông H đi làm thủ tục cải chính hộ tịch nhưng ông H không đồng ý và luôn khẳng định trẻ G là con đẻ của mình. Ngày 07/5/2018, bà C cùng ông H và trẻ G đã thực hiện thủ tục giám định DNA huyết thống, kết quả giám định kết luận ông Nguyễn Thế H không phải là cha đẻ của Nguyễn Hoàng Gia G. Tuy nhiên, ông H vẫn một mực khẳng định trẻ G là con gái của mình và không đồng ý đi làm thủ tục cải chính hộ tịch để làm hồ sơ bảo lãnh cho trẻ G đi học.

Nay để đảm bảo quyền lợi của con gái và kịp thời gian làm thủ tục nhập học ở Đài Loan cho con đúng hạn, bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Thế H – sinh ngày 18/5/1982 không phải là cha đẻ của Nguyễn Hoàng Gia G – sinh ngày 28/01/2012.

Tại bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa, Bị đơn – ông Nguyễn Thế H trình bày: Ông xác nhận về thời gian chung sống và quá trình đăng ký khai sinh cho trẻ Nguyễn Hoàng Gia G như lời trình bày của nguyên đơn. Từ khi trẻ G sinh ra, ông là người luôn chăm sóc cho con nên ông khẳng định trẻ G là con đẻ của mình và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C đưa ra.

Ông thừa nhận ngày 07/5/2018 ông có thực hiện thủ tục giám định DNA để xác định huyết thống đối với trẻ G. Ông không có ý kiến gì về kết luận giám định này.

Tại phiên tòa,

Bà A, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Thế H – sinh ngày 18/5/1982 không phải là cha đẻ của Nguyễn Hoàng Gia G – sinh ngày 28/01/2012;

Bị đơn có đơn xin vắng mặt;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng, quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuân theo đúng pháp luật tố tụng về việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành theo đúng trình tự tố tụng, các đương sự chấp hành tốt quy định pháp luật về tố tụng. Về nội dung: Căn cứ vào kết quả xét nghiệm DNA huyết thống số 6013 và công văn số 557/BV-TMHH-TCCB ngày 06/6/2018 của Bệnh viện truyền máu huyết học thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

N N ĐỊN CỦ

N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe đương sự có mặt tại phiên tòa trình bày, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] V quan hệ tranh ch p và th m quy n giải quyết: Bà Juan Shih Chiu C có đơn khởi kiện đối với ông Nguyễn Thế H để yêu cầu xác định ông H không phải là cha đẻ của trẻ Nguyễn Hoàng Gia G, đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc “Xác định cha cho con” quy định tại Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông Nguyễn Thế H cư ngụ tại quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] V tố tụng: Căn cứ vào giấy ủy quyền có số công chứng 016907, quyển số 05TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/5/2018 tại Văn phòng công chứng Hoàng Xuân Ngụ thì bà Juan Shih Chiu C ủy quyền cho bà Lê Thị Kim A là người đại diện tham gia tố tụng tại Tòa. Việc uỷ quyền của đương sự là phù hợp với quy định pháp luật dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thế H có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn:

Căn cứ giấy khai sinh số 46 đăng ký ngày 18/8/2017 tại Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thì họ và tên người cha của trẻ Nguyễn Hoàng Gia G - sinh ngày 28/01/2012 là ông Nguyễn Thế H – sinh ngày 18/5/1982. Bà Juan Shih Chiu C xác định ông Nguyễn Thế H không phải là cha đẻ của trẻ Nguyễn Hoàng Gia G.

Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống số 6013-DTHPT-DNA HT ngày 10/5/2018 và công văn số 557/BV-TMHH-TCCB ngày 06/6/2018 của Bệnh viện Truyền máu - Huyết học thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Nguyễn Thế H không phải là cha đẻ của trẻ Nguyễn Hoàng Gia G, với xác suất liên hệ cha con là 0%. Việc thực hiện giám định DNA đã được bệnh viện thực hiện đúng quy trình về tiếp nhận, phân tích và trả kết quả DNA huyết thống. Ông Nguyễn Thế H thừa nhận ông và trẻ G có đến bệnh viện Truyền máu - Huyết học thực hiện giám định huyết thống và không có ý kiến tranh chấp đối với kết quả giám định.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Xác định ông Nguyễn Thế H – sinh ngày 18/5/1982 không phải là cha đẻ của Nguyễn Hoàng Gia G – sinh ngày 28/01/2012, theo giấy khai sinh số 46 đăng ký ngày 18/8/2017 tại Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Juan Shih Chiu C được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch cho trẻ Nguyễn Hoàng Gia G.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Juan Shih Chiu C là có căn cứ nên chấp nhận.

[5] V án phí: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Juan Shih Chiu C nên ông Nguyễn Thế H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Bà Juan Shih Chiu C không phải nộp án phí, hoàn lại cho bà C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0008320 ngày 11/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.

Vì các lẽ trên,

ĐỊN :

Áp dụng các điều 88, 90, 91, 101, 102 và 128 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự;

Áp dụng Luật hộ tịch;

Áp dụng Điều 11 Thông tư 15 ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án).

Tuyên xử:

1. Ch p nhận toàn b yêu cầu c a nguyên đơn, bà Juan Shih Chiu C:

Xác định ông Nguyễn Thế H – sinh ngày 18/5/1982 không phải là cha đẻ của trẻ Nguyễn Hoàng Gia G theo giấy khai sinh số 46 đăng ký ngày 18/8/2017 tại Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Juan Shih Chiu C được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch cho trẻ Nguyễn Hoàng Gia G.

2. V án phí: Ông Nguyễn Thế H phải chịu án phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

Hoàn lại cho bà Juan Shih Chiu C số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/ 0008320 ngày 14/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. V quy n kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. ỘI ĐỒNG XÉ XỬ SƠ ẨM

hẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ