vanban.org

Bản án 554/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 29/11/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo, những người đại diện h p pháp cho các bị cáo và giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

Áp dụng: điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo hạm Văn Q 05 (Năm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q và Phạm Văn P - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo, những người đại diện h p pháp cho các bị cáo và giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 554/2023/HS-PT
Ngày: 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thái

Các thẩm phán:

Ông Vũ Thanh Liêm

Ông Nguyễn Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và tại Điểm cầu thành phần Hội trường xét xử, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (cơ sở tạm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh; địa chỉ: Khu T xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi), Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 515/2023/T T-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối v i bị cáo hạm Văn Q và hạm Văn về tội “Giết người” do c kháng cáo c a bị cáo, đại diện h p pháp c a bị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Bị cáo có kháng cáo

1. hạm Văn Q, sinh ngày 03/10/2005 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: TD U, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: H’re; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông hạm Văn Đ và bà hạm Thị T; v , con: Chưa c ; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 09/02/2022 bị Công an thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 01/QĐ-X HC về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền số tiền: 750.000đồng. Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị bắt tạm giam từ ngày 01/5/2023. C mặt.

2. hạm Minh 1, sinh ngày 15/12/2006 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn - D, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: H’re; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông hạm Văn C và bà hạm Thị N; v , con: Chưa c ; tiền án, tiền sự: Không. Bị cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại. C mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo:

1. Ông hạm Văn Đ, sinh năm 1983; bà hạm Thị T, sinh năm 1986 (Cha mẹ đẻ c a bị cáo hạm Văn Q). Ông Đ c mặt.

Địa chỉ: TD U, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Ông hạm Văn C, sinh năm 1986; bà hạm Thị N, sinh năm 1988 (Cha mẹ đẻ c a bị cáo hạm Minh 1). Đều c mặt.

Địa chỉ: Thôn - D, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo hạm Văn Q: Ông Đoàn Nhật N1 - Tr giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Tr giúp pháp lý nhà nư c tỉnh Q. C mặt.

- Người bào chữa theo luật định cho các bị cáo hạm Minh 1: Bà Hồng Thị T1 – Tr giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Tr giúp pháp lý nhà nư c tỉnh Q. C mặt.

Cùng địa chỉ: Số F, đường , thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 24/4/2022, trong lúc dự đám cư i tại thôn , xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi thì hạm Văn Q xảy ra mâu thuẫn v i một nh m thanh niên (Chưa rõ lai lịch) ở xã B. Do bực tức nên hạm Văn Q bàn bạc v i hạm Quốc H đánh lại nh m thanh niên c mâu thuẫn v i Q thì H đồng ý. Sau đ , Q gọi điện thoại r hạm Văn N2, hạm Minh 1 và hạm Văn T2 cùng đi thì N2, P1, T2 đều đồng ý. úc này, N2 và P1 đang ở nhà c a N2 thì N2 ra sau nhà lấy 01 cây tuýp sắt (Dài 1,3m, đường kính 02cm, bị cong một đầu) để trên ống pô xe mô tô 76K1-174.39 rồi điều khiển xe chở P1 đến thôn , xã B theo lời Q chỉ dẫn trư c đ . Khi N2 và P1 đến nơi thì gặp Q và H từ trong đám cư i đi ra, Q kể lại việc mâu thuẫn v i nh m thanh niên xã B cho N2 và P1 nghe và r N2 và P1 vào trong đám cư i đánh nhau thì tất cả đồng ý. Tiếp đ , N2 đem cây tuýp sắt cất giấu rồi cả nh m đi đến ngã ba đường đi xã B để đ n T2. Khi T2 t i thì Q, N2, P1, H, T2 cùng bàn bạc thống nhất xông vào đánh nhau v i nh m thanh niên xã B. N2 điều khiển xe mô tô 76K1- 174.39 chở Q và H còn T2 điều khiển xe mô tô 76K1-141.90 chở P1. Khi đến chỗ cất giấu cây tuýp sắt thì N2 dừng lại lấy cây tuýp sắt để trên ống pô xe mô tô rồi tiếp tục đi. N2 chở Q và H chạy trư c t i khu vực gần cổng trại cư i thì gặp hạm Văn Đ1 ( à bạn bè quen biết từ trư c v i N2) từ trong đám cư i chạy ra n i v i N2 là “Tao bị đánh”. úc này, N2, Q, H xông t i đánh nhau bằng tay v i nh m thanh niên xã B, Đ1 thì chạy vào dùng tay đánh 01 cái vào mặt người thanh niên đã đánh mình trư c đ , còn T2 và P1 ngồi trên xe mô tô chờ bên ngoài. Trong lúc đánh nhau, H bị hạm Văn H1 dùng tay đánh và kẹp cổ. Thấy vậy, Quốc nhặt 01 khúc cây dài khoảng 1m chạy đến đánh 01 cái theo hư ng từ trên xuống vào đầu c a H1 rồi bỏ chạy. N2 sử dụng dây nịt đánh thì dây nịt bị rơi nên N2 chạy đến xe mô tô lấy cây tuýp sắt đã chuẩn bị trư c đ rồi quay lại đánh nhau tiếp; N2 thấy hạm Đặng H2 đang đứng quay lưng về phía Nam. N2 nghĩ hạm Đặng H2 là đồng bọn v i nh m thanh niên c mâu thuẫn v i Q nên N2 chạy t i cầm cây tuýp sắt bằng tay phải giơ lên cao đánh 01 cái theo hư ng từ trên xuống trúng vào đầu c a hạm Đặng H2 rồi N2 vứt cây tuýp sắt xuống ruộng và bỏ chạy. P1 điều khiển xe mô tô 76K1- 174.39; T2 điều khiển xe 76K1-141.90 chở Q bỏ chạy; trên đường đi Q bảo T2 về nhà Q để Q lấy 01 khẩu súng cồn tự chế rồi quay lại hiện trường thì bị hạm Văn S cùng nh m thanh niên xã B đuổi đánh. Q và T2 bỏ xe mô tô 76K1-141.90 và khẩu súng cồn tự chế tại hiện trường rồi bỏ chạy.

Sau khi bị đánh hạm Đặng H2 bị chấn thương sọ não nên ngày 26/4/2022 đi khám tại Bệnh viện Đ2, sau đ chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh Q điều trị đến ngày 02/5/2022 xuất viện còn hạm Văn H1 bị vết thương rách da vùng đầu nên đến Trung tâm y tế huyện B xử lý vết thương và xuất viện trong đêm 24/4/2022.

Kết luận giám định số 146/TgT ngày 23/5/2022 c a Trung tâm háp y tỉnh Q đối v i thương tích c a hạm Đặng H2:

+ Ổ tổn thương não thuỳ trán phải: 26%.

+ Tụ máu ngoài màng cứng đỉnh phải: 8,14%.

+ Tụ máu vùng thái dương phải: 7,24%.

+ Nút xương sọ: 5,86%.

Tổng cộng: 47,24%. àm tròn = 47%.

+ Các tổn thương trên phù h p v i vật tày gây thương tích.

+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 c a Bộ Y quy định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 47%.

Kết luận giám định số 242/K TTCT-TT Y ngày 10/4/2023 c a Trung tâm háp y tỉnh Q đối v i thương tích c a hạm Văn H1:

+ Vùng đỉnh phải c vết rách da đã lành sẹo dài 2,3cm, rộng 0,3cm. Vết thương này do vật tày tác động gây nên, hư ng từ trên xuống dư i

+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT c a Bộ Y , ngày 28/8/2019 quy định, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể c a hạm Văn H1 tại thời điểm giám định là 01%.

- Kết luận giám định số 332/K -KTHS ngày 30/3/2023 c a hòng K Công an tỉnh Q, kết luận mẫu vật gửi giám định là các bộ phận c a khẩu súng tự chế, sử dụng hơi cồn, bắn đạn bi kim loại. Súng đã bị hỏng, gãy rời, mất một số bộ phận nên không còn sử dụng để bắn đư c. Vì vậy, không đ cơ sở kết luận tầm bắn và tầm gây sát thương.

Đối v i hạm Văn Đ1: Khi thấy nh m bị can hạm Văn N2 đến thì Đ1 n i v i N2 là “Tao bị đánh” và chỉ tay vào trong trại cư i, sau đ Đ1 chạy vào trại cư i dùng tay đánh người thanh niên đã đánh mình trư c đ chứ không tham gia bàn bạc, thống nhất cùng v i các bị can Q, H2, N2, P1, T2 trư c khi đánh nhau; Đ1 cũng không thấy bị can N2 cầm cây tuýp sắt trư c khi xông vào đánh nhau. Do đ , Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm đối v i hạm Văn Đ1 là c căn cứ.

Đối v i hành vi đập phá xe mô tô 76K1- 141.90: Qua điều tra chưa xác định đư c nhân thân lai lịch c a người đập phá xe mô tô 76K1- 141.90, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là c căn cứ.

Đối v i hành vi gây thương tích cho hạm Văn H1: Khi thấy anh hạm Văn H1 dùng tay kẹp cổ hạm Quốc H thì bị can hạm Văn Q dùng khúc cây đánh 01 cái vào vùng đầu c a hạm Văn H1 làm anh H1 bị thương tích 01%. Tuy nhiên, lực tấn công c a Q không mạnh, không quyết liệt nên anh H1 chỉ bị vết thương rách da, sau khi đánh anh H1 thì Q bỏ chạy không c ý định tư c đoạt tính mạng c a anh H1. Mặt khác, anh H1 không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý hạm Văn Q về tội cố ý gây thương tích cho anh hạm Văn H1.

Đối v i hành vi chế tạo, tàng trữ súng cồn: hạm Văn Q c hành vi dùng súng này đe dọa nh m thanh niên xã B không cấu thành tội phạm nên không để xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo, hạm Văn Q, hạm Minh 1 phạm tội

“Giết người”.

Áp dụng: điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo hạm Văn Q 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 01/5/2023).

Áp dụng: điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo hạm Minh 1 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm hình sự đối v i các bị cáo khác trong vụ án, phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật. Ngày 25/9/2023, đại diện h p pháp c a bị cáo hạm Minh 1 và bị cáo hạm Minh P1 c đơn kháng cáo v i nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 22/9/2023 đại diện h p pháp c a bị cáo hạm Văn Q c đơn kháng cáo v i nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện h p pháp cho bị cáo hạm Văn Q; người đại diện h p pháp cho bị cáo hạm Minh 1 và bị cáo hạm Minh 1: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù .

Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử: không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo và những người đại diện h p pháp cho các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm

Sau khi nghe: bị cáo trình bày nội dung kháng cáo; quan điểm c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án; căn cứ bào chữa c a uật sư bào chữa cho bị cáo và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo hạm Văn Q, hạm Minh 1; khai nhận tội, đối chiếu thấy phù h p v i các tài liệu, chứng cứ đã đư c thu thập c tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử c đ căn cứ kết luận: ngày 24/4/2022, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt tại đám cư i thuộc thôn , xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, hạm Văn Q đã r các bị cáo hạm Văn N2, hạm Quốc H, hạm Minh P1, hạm Văn T2 và thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi đánh nh m thanh niên xã B. Trong đ bị cáo hạm Văn N2 dùng 01 cây tuýp sắt đánh vào vùng đầu c a anh hạm Đặng H2 gây thương tích v i tỷ lệ qua giám định là 47%.

Các bị cáo là người đầy đ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết việc dùng tuýp bằng sắt đánh vào vùng đầu anh hạm Đặng H2 là những vị trí trọng yếu trên cơ thể c a người bị hại c khả năng dẫn đến hậu quả chết người nhưng bị cáo vẫn tham gia và thực hiện. Người bị hại không chết là do đư c cấp cứu kịp thời. Hành vi phạm tội c a các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tính mạng c a người khác, thể hiện việc coi thường pháp luật, không chỉ gây thiệt hại về sức khỏe cho bị hại mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo thực hiện hành vi đối v i bị hại hạm Đặng H2 là người dư i 16 tuổi (15 tuổi 7 tháng 02 ngày). Do đ , Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên bố các bị cáo hạm Văn Q, hạm Minh 1 phạm tội “Giết người”. Tội phạm và hình phạt đư c quy định tại điểm b,n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 là c căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù đối v i bị cáo hạm Văn Q, hạm Minh 1 thì thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo hạm Minh 1 là người c nhân thân tốt, không c tiền án, tiền sự Bị cáo hạm Văn Q là người c nhân thân xấu: c 01 tiền sự: ngày 09/02/2022 bị Công an thị trấn B, huyện B xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 01/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền số tiền: 750.000đồng. Bị cáo đã chấp hành xong; tiền án: không c

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự c a các bị cáo: không c

- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, gia đình các bị cáo c công v i cách mạng. Tại phiên tòa, bị hại, đại diện theo pháp luật c a bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bản án sơ thẩm đã áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là c căn cứ.

Đối v i bị cáo hạm Văn Q:

Bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên (16 tuổi 6 tháng 21 ngày) nhưng c năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc dự đám cư i mà bị cáo đã r các bị cáo khác cùng tham gia đánh nhau, bị cáo là người khởi xư ng và thực hành tích cực.

Đối v i hạm Minh 1.

Bị cáo hạm Minh 1 khi phạm tội là người chưa thành niên (Bị cáo P1 15 tuổi 4 tháng 09 ngày) nhưng c năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo P1 không c mâu thuẫn gì v i bị hại nhưng sau khi nghe bị cáo

hạm Văn Q r đi đánh nh m thanh niên xã B thì các bị cáo đồng ý, trong đ c bị cáo P1 cũng đồng ý. Các bị cáo c vai trò là người giúp sức, hỗ tr về mặt tinh thần cho bị cáo hạm Văn N2 thực hiện hành vi. Bị cáo H2 trực tiếp tham gia đánh nhau v i nh m thanh niên xã B, các bị cáo P1, T2 ngồi trên xe mô tô đ i chở các bị cáo tẩu thoát sau khi đánh nhau.

Các bị cáo hạm Văn Q, hạm Minh 1, tuy không trực tiếp gây thương tích cho bị hại hạm Đặng H2 nhưng hành vi c a bị cáo thực hiện là đồng phạm giúp sức cho bị cáo hạm Văn N2 thực hiện hành vi. Sau khi bị cáo N2 đánh xong thì các bị cáo tẩu thoát khỏi hiện trường, bỏ mặc hậu quả xảy ra nên phải chịu chung trách nhiệm hình sự mà do bị cáo N2 gây ra.

Các bị cáo thực hiện hành vi đối v i bị hại hạm Đặng H2 là người dư i 16 tuổi (15 tuổi 7 tháng 02 ngày).

Hành vi c a bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe c a người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương nên áp dụng hình phạt tù đối v i bị cáo. Tuy nhiên, hành vi các bị cáo thực hiện chưa xảy ra hậu quả chết người là thuộc trường h p phạm tội chưa đạt, tại thời điểm phạm tội các bị cáo hạm Văn Q là người từ đ 16 đến dư i 18 tuổi, bị cáo hạm Minh P1 là người từ đ 14 tuổi đến dư i 16 tuổi .

Do đ , Bản án sơ thẩm khi quyết định hình phạt đối v i bị cáo, đã đánh

giá đúng tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội c a bị cáo đã gây ra; xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối v i các bị cáo áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối v i bị cáo hạm Văn Q. Áp dụng quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối v i bị cáo hạm Minh P1: quyết định hình phạt dư i mức thấp nhất c a khung hình phạt mà các bị cáo đã phạm (quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015có mức hình phạt tù “từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”) xử phạt bị cáo hạm Văn Q 05 năm tù và xử phạt bị cáo hạm Minh 1 01 năm 06 tháng tù về tội “Giết người” là tương xứng v i tính chất mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người đại diện h p pháp c a các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình: Đơn c a người đại diện theo pháp luật c a người bị hại về việc xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và giấy xác nhận về việc các bị cáo tiếp tục bồi thường xong số tiền mà bị cáo phải bồi thường theo quyết định c a Bản án sơ thẩm, cụ thể: bị cáo Q bồi thường thêm đư c 19.000.000 đồng, bị cáo P1 bồi thường thêm đư c 5.000.000 đồng cho bị hại. Đây là nghĩa vụ mà các bị cáo phải thực hiện và cũng là tình tiết giảm nhẹ thêm hình phạt cho các bị cáo đư c xem xét.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án bản án sơ thẩm đã xem xét đối v i việc người đại diện theo pháp luật c a người bị hại về việc xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và việc các bị cáo tích cực bồi thường thiệt hại để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên không tiếp tục áp dụng. Mức hình phạt đối v i các bị cáo nêu trên c a Tòa án cấp sơ thẩm đã tương xứng v i tính chất mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội c a các bị cáo. Vì vậy thấy đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là c căn cứ pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo, những người đại diện h p pháp về việc xin giảm nhẹ hình phạt đối v i các bị cáo và giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm.

Do yêu cầu kháng cáo không đư c chấp nhận nên đại diện h p pháp c a các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định c a pháp luật.

Những phần quyết định khác c a bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo, những người đại diện h p pháp cho các bị cáo và giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 11/9/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

- Áp dụng: điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo hạm Văn Q 05 (Năm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 01/5/2023).

- Áp dụng: điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo hạm Minh 1 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đư c tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí: Những người đại diện h p pháp cho các bị cáo hạm Văn Q, hạm Minh 1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác c a bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ