- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế V - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của cáo Nguyễn Thế V.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 553/2022/HS-PT Ngày: 19-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Việt Cường.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Long
Ông Mai Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân - Kiểm sát viên.
Ngày 19-12-2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 440/2022/TLPT-HS ngày 07-10-2022 ối v i cáo Nguyễn Thế V, do có kháng cáo của cáo ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2022/HSST ngày 31-8-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
1. Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Thế V (tên gọi khác: Lát), sinh ngày 21-10-1993 tỉnh Kon Tum; nơi ăng ký HKTT và chỗ ở: tỉnh Kon Tum; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; gi i tính: Nam; trình ộ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; con ông Nguyễn Văn T ( ã chết) và à Lương Th Kiều D, sinh năm 1951; tiền án, tiền sự: Không.
B cáo ngày 28-5-2021, hiện ang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Kon Tum, có mặt tại phiên tòa.
2. Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo:
Luật sư Hoàng Minh T - Văn phòng Luật sư M thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kon Tum, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Chu Việt T ( ã chết về ệnh lý khác).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nông Thị X, sinh năm 1953 (là mẹ ruột); a chỉ cư trú: tỉnh Kon Tum, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ch Nguyễn Th Thúy L, sinh năm 1988; a chỉ cư trú: tỉnh Kon Tum, có mặt tại phiên toà.
(Vụ án có 07 người làm chứng, nhưng không liên quan đến kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 0-4-2021, Nguyễn Thế V ang ở nhà cùng v i em trai, thì Đặng X N gọi iện thoại rủ V ến quán B ở tỉnh Kon Tum uống ia, nghe nhạc, V ồng ý và tự iều khiển xe môtô ến quán B. Khi ến trư c quán, V i vệ sinh ở ên hông quán, thấy có con dao dài khoảng 25 cm, cán dao ằng gỗ, lưỡi dao ằng kim loại, có mũi nhọn, nên V nhặt con dao này út vào túi áo khoác ên phải, mục ích mang về nhà ể dùng. Khi vào quán, V thấy các anh Đặng X N, Lê Minh K, Mai Hoàng K và Trương Đức H ang ngồi tại àn Vip 6 uống ia nghe nhạc, thì V vào ngồi cùng. Ngồi ược một lúc, V thấy anh rể là Đặng Duy H ang ngồi chơi uống ia, nghe nhạc ở àn Vip 3 (cách chỗ V khoảng 12 mét) v i một số người, nên V cầm ly ia ến mời anh H, sau ó ngồi lại chơi cùng anh H. Lúc này, anh Chu Việt T cũng ang ngồi chơi, uống ia ở àn Vip 1, cùng v i anh Trần Bảo P (Quản lý quán B). Anh T ngồi chơi v i anh P, sau ó i vệ sinh ên hông quán, thì thấy ở ồn hoa có một khẩu súng ngắn, nên ã nhặt súng mở hộp tiếp ạn và thấy có 1 viên ạn, iết ây là loại súng ắn ạn cao su, nên anh T lấy khẩu súng này giắt vào hông quần phải và vào trong quán tiếp tục ngồi chơi, uống ia tại àn Vip 1 v i anh P. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh P cùng mọi người trong àn Vip 1 nghỉ, anh T cũng về. Lúc ra khỏi quán, anh T thấy anh T1 là người quen ang ngồi uống ia một mình ở 1 àn trư c àn Vip 3, nên vào àn ngồi uống ia, nói chuyện xã giao v i anh T1. Trong lúc anh T ngồi uống ia v i anh T1, thì anh H ứng nhảy trư c mặt, anh T khó ch u, nên nói v i anh H “Mày nhảy thì né ra, sao nhảy trư c mặt”. Do trong quán ồn ào tiếng nhạc, anh H không nghe anh T nói gì, vẫn nhảy theo nhạc trư c mặt anh T. Thấy anh H không trả lời, anh T rất ực, nhưng thấy anh T1 ã say rượu, nên rủ anh T1 về. Sau khi anh T1 tính tiền xong thì cả hai về. Anh T1 i xe taxi, còn anh T nhờ một người ạn tên Bi (không iết tên họ thật và a chỉ) ang ứng trư c quán C (gần quán B) chở anh T về.
Trên ường về nhà, vì ực tức và cho rằng anh H coi thường mình, nên anh T nói Bi chở lại quán B, Bi ồng ý. Khi ến quán, anh T một mình i vào, ến gần àn Vip 3 (cách chỗ anh H ang ứng nhảy và chỗ V ang ngồi khoảng 2 mét) rồi dùng tay phải rút khẩu súng ã thủ sẵn ở hông quần phải, chĩa súng vào mặt anh H nói “Mày thích ố láo không?”. Thấy anh T chĩa súng vào mặt mình, anh H liền ư c xuống ậc tam cấp, i nhanh ến gần anh T và dùng tay phải quàng ôm cổ anh T è xuống rồi dùng tay trái cầm cổ tay phải ang cầm súng của anh T. Thấy anh T cầm súng chĩa về phía anh H, V nghĩ anh T có mâu thuẫn v i H và do anh H là anh rể, nên V ứng dậy can thiệp. V vừa i xuống ậc tam cấp ến gần anh T, vừa dùng tay trái rút con dao ang ể trong túi trong áo khoác ang mặc, áp lưỡi dao về phía cổ tay, mục ích tham gia khống chế, e doạ ể lấy súng của anh T. Thấy anh T vùng vẫy, hơi xoay lưng về phía mình, V liền dùng cả 2 tay giữ tay phải cầm súng của anh T cùng v i anh H. Anh T tiếp tục vùng vẫy, nên tay trái của V không nắm giữ tay anh T nữa, mà hạ tay, áp dao sát hông ùi trái của mình rồi làm ộng tác ảo dao ể lưỡi dao ang ở phía cổ tay quay về phía trư c, thì lưỡi dao cắt vào ùi trái của V gây vết thương cho V, còn tay phải của V vẫn giữ tay cầm súng của anh T cùng anh H, anh T vẫn tiếp tục vùng vẫy, xoay người. Anh N trư c ó ngồi ở àn Vip 6 ến àn Vip 3 mời anh H uống ia, chưa k p về lại àn của mình nhìn thấy cũng ư c xuống ậc tam cấp, ến và dùng tay trái nắm giữ tay cầm súng của anh T cùng v i V và anh H, nhưng do anh T vùng vẫy mạnh, nên anh N lùi ra cách khoảng 2 mét ứng nhìn. Anh K và anh K ang ngồi ở àn Vip 6 (cách chỗ anh T cầm súng khoảng 8 mét), nhìn thấy anh T chĩa súng vào anh H, nên cũng ến phụ giúp khống chế anh T ể lấy súng. Đến nơi, thấy anh T ang anh anh H và V dùng tay nắm, khống chế tay anh T ang nắm súng, thì anh K dùng tay phải nắm giữ tay cầm súng của anh T, còn anh K dùng tay ẩy anh T ra, nhưng không ược thì lui ra không tham gia nữa.
Trong lúc anh T anh H, anh K và V nắm giữ tay cầm súng, thấy anh T vùng vẫy không ch u ỏ súng, V dùng tay trái ang cầm dao âm vào ụng anh T 2 nhát rồi tiếp tục dùng tay trái ang cầm dao quàng cổ anh T (theo hư ng từ trư c ra sau) và con dao của V è, gây thương tích ở cổ anh T. Khi V vừa dùng dao âm vào ụng anh T xong, thì lúc này anh K ang dùng hai tay giữ tay cầm súng của anh T liền dùng chân phải kê lên ùi phải của anh T ể làm iểm tựa rồi 2 tay giật mạnh lấy ược súng từ tay anh T rồi nhét súng vào hông quần ên phải i ra ngoài trư c quán, vứt súng vào ồn hoa ở ên hông của quán.
Sau khi anh T V dùng dao âm vào ụng thì quỵ hai ầu gối chân xuống nền quán. Lúc này, thấy ụng anh T chảy máu, thì anh H cùng một người trong quán (chưa rõ là ai) ưa anh T ra trư c quán rồi nhờ một người (không xác nh ược lai l ch) dùng xe mô tô ưa anh T i cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum, còn V iều khiển xe môtô i ến một con ường ở xã Đắk Cấm, vứt con dao tại ây và về nhà.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 57/Tg-TTPY ngày 14-7-2021, Trung tâm Pháp y, thuộc Sở Y tế tỉnh Kon Tum kết luận thương tích của anh Chu Việt T như sau:
- Vết thương cổ phải, còn chỉ khâu, kích thư c trung ình: 04%.
- Xây xư c da vùng cổ sau gáy kích thư c trung ình: 02%.
- Vết mổ ường trắng giữa ên rốn, còn chỉ khâu, kích thư c l n: 03%.
- Vết thương vùng ụng phải cách rốn 05 cm còn chỉ khâu, kích thư c nhỏ: 01%.
- Vết thương mạng mỡ phải còn chỉ khâu, kích thư c nhỏ: 01%.
- Thủng ruột ã phẫu thuật khâu nối ruột, ang theo dõi iều tr tại Bệnh viện a khoa tỉnh Kon Tum: 28%.
Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể an hành theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời iểm giám nh: 35,6% làm tròn: 36%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2022/HS-ST ngày 31-8-2022, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum:
Áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123; các iểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Thế V (tên gọi khác: Lát) 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-5-2021.
Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết nh xử lý vật chứng, án phí và thông áo quyền kháng cáo theo quy nh của pháp luật.
- Ngày 14-9-2022, Nguyễn Thế V kháng cáo xin giảm hình phạt.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyễn Thế V kháng cáo ản án. Đơn kháng cáo của cáo là trong thời hạn quy nh tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do ó Hội ồng xét xử quyết nh ưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa, cáo giữ nguyên kháng cáo, ại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng ề ngh Hội ồng xét xử phúc thẩm căn cứ iểm b khoản 1 Điều 355 iểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của cáo Nguyễn Thế V; sửa ản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho cáo.
Tại phần tranh tụng, Luật sư ào chữa cho cáo và cáo thống nhất về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm ã quyết nh, nhưng cho rằng cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ ó ề ngh Hội ồng xét xử phúc thẩm giảm hình phạt cho cáo.
Nói lời sau cùng, cáo xin giảm hình phạt.
. Xét kháng cáo của cáo:
. Về tội danh:
Mặc dù, giữa Nguyễn Thế V và anh Chu Việt T không quen iết, không có mâu thuẫn, nhưng chỉ vì thấy anh T cầm súng chĩa về phía anh H (là anh rể của cáo) và khi nghe anh T nói “Chúng mày đứng im không tao bắn”, cáo nghĩ là anh T có mâu thuẫn v i anh H. Do ó, ã cùng anh H giữ tay cầm súng của anh T và trong lúc anh T ang anh H và anh K giữ tay ể tư c lấy súng, thì V dùng dao âm hai nhát vào vùng ụng của anh T, tiếp ó dùng tay ang cầm dao quàng cổ anh T theo hư ng từ trư c ra sau, gây thương tích ở cổ của anh T; hậu quả, anh T thương tích v i tỷ lệ tổn thương cơ thể là 36%.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Thế V ã ủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” v i lỗi cố ý gián tiếp và thuộc tình tiết nh khung “Có tính chất côn ồ”. Do ó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án cáo về tội “Giết người” theo iểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, úng pháp luật.
. Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm ến sức khỏe và có nguy cơ tư c oạt tính mạng của hại, hậu quả hại không chết mà chỉ tổn thương cơ thể v i tỷ lệ 36% là ngoài ý thức chủ quan của cáo. Hành vi của cáo không những sẵn sàng giải quyết mâu thuẫn ằng việc sử dụng hung khí, mà còn xâm phạm ến trật tự tr an, a phương, do ó cần phải xử phạt cáo hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, do cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau khi phạm tội thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; tác ộng gia ình ồi thường toàn ộ số tiền 50.000.000 ồng (theo yêu cầu của hại) và ược hại xin giảm nhẹ hình phạt; cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa ạt; gia ình cáo có hoàn cảnh khó khăn, do ó Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt cáo 10 (mười) năm tù là tương xứng v i tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà cáo ã gây ra.
B cáo kháng cáo xin giảm hình phạt và tại phiên toà phúc thẩm cáo cung cấp ược tài liệu ể chứng minh ã tự nguyện ồi thường thêm cho gia ình hại 20.000.000 ồng và ược ại diện hợp pháp của hại xin giảm hình phạt. Do
cáo có thểm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm m i tại cấp phúc thẩm, nên Hội ồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho cáo ể thể hiện chính sách nhân ạo của pháp luật.
Như vậy, kháng cáo của cáo ã ược Hội ồng xét xử phúc thẩm xem xét và có cơ sở chấp nhận.
. Các quyết nh khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
kháng cáo, kháng ngh Hội ồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
. Về án phí: Do kháng cáo ược chấp nhận, nên cáo không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ iểm b khoản 1 Điều 355 và iểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận kháng cáo của cáo Nguyễn Thế V.
- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2022/HS-ST ngày 31-8-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
2. Áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123; các iểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Thế V (tên gọi khác: Lát) 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-5-2021.
3. Các quyết nh khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
kháng ngh ã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
4. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ iểm h khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyễn Thế V không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kon Tum; - TANDTC - Vụ I; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Kon Tum; - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - Cục THA dân sự tỉnh Kon Tum; - Trại tạm giam CA tỉnh Kon Tum; (02 ản, ể giao cho cáo 01 ản); - Lưu: H/sơ vụ án, các Phòng HCTP, LTHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Việt Cường |