vanban.org

Bản án 553/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ M
Bản án số: 553/2020/HS-PT
Ngày 03 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ M

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:"Ông Bùi Đức Nam.

Các"Thẩm"phán:"1. Ông Đặng Hồng Sơn.

2. Ông Trương Công Huấn.

- Thư ký phiên tòa:"Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án Nhân dân

Thành phố Hồ Chí M.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí M tham gia

phiên tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ

Chí M, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 440/2020/TLPT-

HS ngày 09/10/2020 đối với bị cáo Lương Văn M do có kháng cáo của bị cáo

đối với bản án hình sự sơ thẩm số 154/2020/HS-ST ngày 18/8/2020 của Tòa án

Nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí M.

Bị"cáo"có"kháng"cáo:

Lương Văn M, sinh năm 1999 tại Ninh Bình; nơi ĐKTT: xóm 7, xã

Khánh Thịnh, huyện Yên M, tỉnh Ninh B; tạm trú: nhà không số, tổ 22, khu

phố 1A, phường Tân Thới H, Quận X, Thành phố Hồ Chí M; nghề nghiệp:

không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không;

quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T và bà Trần Thị D; chưa có vợ

con; tiền án; không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 00 ngày 20/12/2019, Nguyễn Hoàng Phi L ngồi

nhậu cùng với Lương Văn M thì M rủ L đi trộm cắp gà của người khác đem

bán lấy tiền chia nhau tiêu xài và L đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô

Wave (không rõ biển số) của L, còn M điều khiển xe mô tô Wave màu xanh

(không rõ biển số) của Huỳnh Dũng (do M mượn Dũng trước đó) chạy đến nhà của Trương Dương T thì gặp Trương Dương T, Trương T Tính và Huỳnh Dũng đang ngồi nhậu nên L rủ T, Tính và Dũng cùng trộm cắp gà của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì tất cả đồng ý.

Khi đi, T điều khiển xe mô tô Wave (không rõ biển số) của Dũng chở

Dũng; M điều khiển xe mô tô Wave màu xanh (không rõ biển số) của L chở L và Tính đi đến nhà số: 30/2 đường Lê Thị Riêng, tổ 6, khu phố phường Thới An, Quận X do anh Nguyễn T Hải làm chủ. Tại đây, Dũng đứng ngoài đường cảnh giới còn L, Tính, M và T đi vào bên trong trộm cắp được 18 con gà đá, cân nặng tổng cộng là 30kg (trong đó có 09 con gà nòi cân nặng từ 2kg đến 2,8kg; 09 con gà tre cân nặng từ 1kg đến 1,3kg) đem về khu chuồng bò (nhà của Trương Dương T) cất giấu rồi cả nhóm đi ăn sáng. Sau đó, cả nhóm về khu chuồng bò kiểm tra thì phát hiện bị mất 01 con gà nòi, chỉ còn 17 con gà. Cả nhóm chia số con gà vừa trộm cắp được như sau: L được 02 con gà nòi, Dũng được 01 con gà nòi và 03 con gà tre, M được 01 con gà nòi và 06 con gà tre, T được 04 con gà nòi, riêng Tính không lấy chia gà mà để bán gà xong chia tiền thì Tính sẽ lấy. Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản đến ngày 23/12/2019, anh Hải mới đến Công an phường Thới An, Quận X trình báo sự việc bị mất trộm 18 con gà đã như nội dung nêu trên.

Qua quá trình điều tra, truy xét, Công an Quận X đã mời Nguyễn

Hoàng Phi L, Huỳnh D, Trương Dương T; Trương T T, Lương Văn M lên làm việc.

Nguyễn Hoàng Phi L khai cùng động bọn trộm cắp 18 con gà đá như

nêu trên, L bán 02 con gà cho tên Nguyễn M Tâm. Tại nhà của Tâm được số tiền 900.000 đồng, hiện L đã tiêu xài hết, khi bán cho Tâm 02 con gà trên thì L không nói nguồn gốc nên Tâm không biết 02 con gà trên do L phạm tội mà có.

Huỳnh Dũng khai cùng đồng bọn trộm cắp 18 con gà đá như nêu trên,

Dũng đem bán 04 con gà cho người đàn ông (chưa xác định) tại khu đất trống (không xác định địa điểm) được số tiền 1.300.000 đồng, hiện đã tiêu xài hết, khi bán 04 con gà cho người đàn ông (chưa xác định) Dũng không nói nguồn gốc 04 con gà trên nên người đàn ông không biết 04 con gà trên do Dũng phạm tội mà có.

Trương Dương T khai cùng đồng bọn trộm cắp 18 con gà đá như nêu

trên, T bán 04 con gà nòi tại trước nhà T cho 02 người đàn ông tên Mon (chưa xác định) và tên Hiệp (chưa xác định) được số tiền 3.100.000 đồng, T chia cho Tính số tiền 900.000 đồng, hiện T và Tính đã tiêu xài hết, khi bán 04 con gà trên, T không nói nguồn gốc nên người đàn ông tên Mon và tên Hiệp không biết 04 con gà này do T phạm tội mà có.

Lương Văn M khai cùng đồng bọn trộm cắp 18 con gà đá như nêu trên,

M cùng Dũng đem 06 con gà bán cho Lâm Thành Luân tại nhà của Luân được số tiền 2.700.000 đồng nhưng Luân mới đưa số tiền 1.000.000 đồng, số tiền 1.700.000 đồng Luân thiếu lại M. Dũng chia cho M số tiền 200.000 đồng, Dũng giữ số tiền 800.000 đồng, hiện Dũng và M đã tiêu xài hết, khi bán 06

con gà trên cho Luân thì M và Dũng không nói nguồn gốc nên Luân không

biết 06 còn gà trên do M và Dũng phạm tội mà có.

Tại bản Kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 456/KLĐG ngày

03/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận X kết

luận: 18 con gà đá cân nặng 30 kg có giá là 115.000 đồng/kg x 30 kg =

3.450.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X, các đối tượng đã khai

nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 154/2019/HS-ST ngày 18/8/2020 của Tòa

án Nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí M đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Dũng, Nguyễn Hoàng Phi L, Trương T

Tính, Lương Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm

o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

1/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Phi L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù

tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ

luật hình sự.

2/ Xử phạt bị cáo Lương Văn M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ

ngày bắt bị cáo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều

90; Điều 91; Điều 65 Bộ luật hình sự.

3/ Xử phạt bị cáo Huỳnh Dũng 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án

treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.

4/ Xử phạt bị cáo Trương T Tính 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án

treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Huỳnh Dũng và Trương T Tính cho Ủy ban nhân dân

phường Tân Thới Hiệp, Quận X, Thành phố Hồ Chí M giám sát, giáo dục các

bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực

hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm

nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án

có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã

cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nộp lại thu lợi bất chính, án

phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/8/2020 bị cáo Lương Văn M kháng

cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo do là lao động chính trong gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí M sau khi phân

tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhận định án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Lương Văn M kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa

không có lý do, sự vắng mặt đó không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Khoảng 2 giờ 00 phút ngày 20/12/2019, Lương Văn M rủ Nguyễn

Hoàng Phi L đi trộm cắp gà để bán lấy tiền tiêu xài thì L đồng ý. L và M điều khiển 2 xe mô tô chạy đến nhà của Trương Dương T thì gặp Trương Dương T, Trương T Tính và Huỳnh Dũng đang ngồi nhậu. L rủ T, Tính và Dũng cùng trộm cắp gà của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì tất cả đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở Dũng, M điều khiển xe mô tô chở L và Tính. Tất cả đi đến nhà anh Nguyễn T Hải, địa chỉ 30/2, đường Lê Thị Riêng, tổ 6, khu phố phường Thới An, Quận X. Dũng đứng ngoài đường cảnh giới còn L, Tính, M và T đi vào bên trong trộm cắp được 18 con gà đem về khu chuồng bò nhà của Trương Dương T cất giấu. Cả nhóm chia số con gà vừa trộm cắp được như sau: L được 02 con gà nòi, Dũng được 01 con gà nòi và 03 con gà tre, M được 01 con gà nòi và 06 con gà tre, T được 04 con gà nòi,

riêng Tính không lấy chia gà mà để bán gà xong chia tiền thì Tính sẽ lấy. Sau

khi phát hiện bị mất trộm tài sản, anh Hải đến Công an phường Thới An,

Quận X trình báo. Quá trình truy xét, Công an Quận X đã triệu tập Nguyễn

Hoàng Phi L, Huỳnh Dũng, Trương Dương T, Trương T Tính, Lương Văn M.

Tại Cơ quan công an, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Tổng giá trị

tài sản bị chiếm đoạt qua định giá xác định là 3.450.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lương Văn

M và đồng phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều

173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người,

đúng tội, không oan sai.

Và khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ

như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường

hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tài sản của

người bị hại đã được thu hồi một phần; chưa tiền án, tiền sự; gia đình có khó

khăn được quy định tại điểm h điểm i điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ

luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo M 09

(chín) tháng tù là thỏa đáng, có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Với lập luận tại đoạn [2] và trong vụ án này vai trò của bị cáo M là

người cầm đầu nên Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng

cáo của bị cáo, chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên và giữ nguyên bản án

sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố

tụng hình sự.

[4] Về án phí đối với bị cáo: phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự

phúc thẩm theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa

án có hiệu lực ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình

sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h điểm i điểm s khoản 1 khoản 2 Điều

51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày

01/01/2017.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Văn M và giữ nguyên

bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Lương Văn M 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài

sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành hình phạt tù.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ