- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGĐST QUÍ- NHÂN"
- Tòa quyết gì? Xử: 1/ Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Phước Q được ly hôn với chị Bùi Thị Kim N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 553/2020/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2020 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TIỀN GIANG.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa bà Trương Thị Tuyết Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông: Nguyễn Văn Y
2/ Ông: Lê Văn Minh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa ông Nguyễn Thành Phục – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa bà: Lê Hoàng Lan Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Phước Q
; Sinh năm: 1991 Địa chỉ: Ấp 4, xã TH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Bùi Thị Kim N ; Sinh năm: 1993 Địa chỉ: Ấp 4, xã TH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
(Anh Q có mặt, chị N vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn ngày 10/02/2020 và trong biên bản hòa giải không được ngày 08/6/2020 cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Phước Q trình bày:
Anh và chị Bùi Thị Kim N chung sống với nhau vào năm 2014 có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu anh, chị chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Anh và chị N đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2016 cho đến nay.
Nay về hôn nhân: Anh yêu cầu được ly hôn với chị N.
Về con: Anh và chị N có 01 con chung tên Nguyễn Phước C, sinh ngày 01/6/2015 hiện anh đang nuôi con. Nay anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Đối với chị Bùi Thị Kim N, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng chị N không có văn bản gởi cho Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của Anh Q và cũng không tham gia hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Các đương sự tham gia tố tụng: nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của luật tố tụng dân sự, bị đơn không tuân thủ đúng quy định của luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Phước Q.Về con chung giao cho Anh Q nuôi con chung tên Nguyễn Phước C, sinh ngày 01/6/2015, chị N khỏi phải cấp dưỡng nuôi con do Anh Q không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Qua nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Phước Q và chị Bùi Thị Kim N được xác lập vào ngày 02/01/2014, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay Anh Q yêu cầu ly hôn với chị N.
Hội đồng xét xử nhận thấy, thời gian Anh Q và chị N sống ly thân đến nay cũng đã khá dài, trong khoảng thời gian đó chị N cũng không tới lui thăm và chăm sóc con tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại Tòa hôm nay chị N cũng không có mặt mặc dù chị đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng. Như vậy chứng tỏ chị N đã không muốn hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa Anh Q và chị N đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, khả năng đoàn tụ là không có, nhằm để giải phóng tình cảm cho nhau Hội đồng xét xử cho Anh Q được ly hôn với chị N là không gì trái với quy định của pháp luật.
Về con: Anh Q và chị N có 01 con chung tên Nguyễn Phước C, sinh ngày 01/6/2015, hiện Anh Q đang nuôi con. Nay Anh Q yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử nhận thấy từ ngày Anh Q và chị N sống ly thân cho đến nay cháu Nguyễn Phước C được Anh Q chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo, cuộc sống đã ổn định, vì vậy nhằm cho cháu C có cuộc sống ổn định về tâm sinh lý, Hội đồng xét xử cần giao cháu C cho Anh Q tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do Anh Q không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản: Anh Q trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với chị Bùi Thị Kim N mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt đối với chị N.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: 1/ Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Phước Q được ly hôn với chị Bùi Thị Kim N.
2/ Về con: Giao con chung tên Nguyễn Phước C, sinh ngày 01/6/2015 cho Anh Q tiếp tục nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con vì Anh Q chưa yêu cầu.
Chị N được quyền đến thăm và chăm sóc con chung.
3/ Về án phí: Anh Q phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, Anh Q đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 01848 ngày 10/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành xem như nộp xong án phí.
Anh Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được Tòa án tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TG - VKSND HCT - Chi cục THADS HCT - Các đương sự - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Trương Thị Tuyết Linh |