vanban.org

Bản án 552/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Bích V ly hôn với ông Nguyễn Minh S.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Minh S1, sinh ngày Z ; Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày C. Giao trẻ Sáng, trẻ T cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà V không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con có thể t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Bích V ly hôn với ông Nguyễn Minh S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 552/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 18/9/2020
V/v vụ án ly hôn – mâu thuẫn gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nam

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hiệp

2. Ông Nguyễn Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thơi – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Bá Phúc- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 854/2019/TLST-HN ngày 12 tháng 12 năm 2019 về việc: “vụ án ly hôn - mâu thuẫn gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 87/2020/QĐST-HN ngày 26 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm X

Địa chỉ: V, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: A, phường B, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh

Hòa. Bị đơn:

Ông Nguyễn Minh S, sinh năm Y

Địa chỉ: C, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh S tự nguyện chung sống từ năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy chứng nhận kết hôn số 212, ngày 23/12/2005).

Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng về quan điểm sống, cách sinh hoạt, ông S chơi cờ bạc, không lo cho gia đình. Mặc dù đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả, tình cảm vợ chồng ngày càng bị rạn nứt, không còn tôn trọng lẫn nhau. Hai vợ chồng đã ly thân từ 09 năm nay. Từ khi sống ly thân không ai quan tâm đến ai.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với ông S.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Minh S1, sinh ngày Z ; Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày C. Bà V đề nghị được trực tiếp nuôi trẻ S1, trẻ T. Không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Minh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không thể hiện ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Bích V xin vắng mặt, ông Nguyễn Minh S vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham dự phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về trình tự thủ tục tố tụng dân sự: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo nguyên tắc xét xử. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Minh S có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà V và ông S đã ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Xét thấy, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà V xin ly hôn ông S là có cơ sở chấp nhận. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Minh S1, sinh ngày Z; Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày C. Căn cứ vào bản trình bày nguyện vọng của trẻ S1, trẻ T, đề nghị Hội đồng xét xử giao trẻ S1, trẻ T cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà V không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có

Căn cứ Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích V được ly hôn với ông Nguyễn Minh S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, các lời khai, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Mặc dù, ông S đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông S vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến phản hồi.

Đối với sự vắng mặt của nguyên đơn tại phiên tòa, xét thấy quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn đều có mặt, đã có lời khai cũng như đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Ngày 21/7/2020, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt.

Do đó, căn cứ điểm a, b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hệ tranh chấp: Bà V yêu cầu ly hôn với ông S. Do đó đây là “vụ án ly hôn – mâu thuẫn gia đình” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn cư trú tại địa chỉ C, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Minh S quen biết, tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 212, ngày 23/12/2005, nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Minh S là hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng từ năm 2011, bà V, ông S phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2011. Từ khi sống ly thân không ai quan tâm đến ai.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện cho bà V, ông S hàn gắn hạnh phúc gia đình, nhưng ông S vắng mặt. Tại phiên tòa, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt, không thể hiện ý kiến. Điều này chứng tỏ ông S không còn tha thiết cuộc sống vợ chồng với bà V, không thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, cố tình để mặc bà V tự giải quyết việc mâu thuẫn vợ chồng.

Qua những phân tích trên cho thấy: quan hệ vợ chồng giữa bà V, ông S đã trầm trọng, vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà V là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Minh S1, sinh ngày Z ; Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày C. Bà V đề nghị được trực tiếp nuôi trẻ S1, trẻ T. Hội đồng xét xử xét, căn cứ vào bản trình bày nguyện vọng của trẻ S1, trẻ T có nguyện vọng muốn ở với mẹ và trên thực tế bà V cũng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Do đó Hội đồng xét xử giao trẻ S1, trẻ T cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà V không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà V chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm a, b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; các Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Bích V ly hôn với ông Nguyễn Minh S.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Minh S1, sinh ngày Z ; Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày C. Giao trẻ Sáng, trẻ T cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà V không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

Ông Nguyễn Minh S được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

Vì lợi ích con chung, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Thi hành tại chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích V xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Bích V phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà V đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0011855 ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, bà Nguyễn Thị Bích V đã nộp xong án phí sơ thẩm.

5. Giấy chứng nhận kết hôn số 212, ngày 23/12/2005 do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

6. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ