- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho UBND xã NH, huyện NĐ, tỉnh Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 552/2019/HSST Ngày: 21/11/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Lê Thị H.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Nguyễn Thị T - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: ông Đinh Sỹ V - chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 548/2019/HSST ngày 11 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 651/2019/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 đốivới bị cáo:
Họ và tên: Đậu Minh Q, Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 01/10/2000.
Trú tại: Xóm Cát Sơn, xã NH, huyện NĐ, tỉnh Q.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: sinh viên; Văn hóa: 12/12.
Con ông: Đậu Văn H , sinh năm 1974.
Con bà: Hồ Thị T, sinh năm: 1975.
Vợ, con: Chưa có.
Anh em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: chưa
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/10/2019 đến ngày 01/11/2019 được tại ngoại đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: anh Nguyễn Minh T - sinh 1977
Trú tại: Xóm 5, xã HC, huyện HN, tỉnh Q - vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/10/2019, Đậu Minh Q đi đến cửa hàng điện thoại “Tất Đạt Mobie” tại số 119, đường Lê Duẩn thuộc khối 7, phường TĐ, thành phố V là nhân viên bán hàng anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1977, trú tại xóm 5, xã HC, huyện HN, tỉnh Q đã đưa ra 4 điện thoại đặt lên bàn kính cho Q xem. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày lợi dụng sơ hở của anh Tín, Q đã lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng bỏ vào túi áo bên trái áo khoác mà Q đang mặc rồi bỏ đi. Khi Q đi ra gần của thì anh Tín phát hiện kiểm tra thu giữ trên túi áo khoác rồi bỏ đi. Khi Q ra gần đến cửa thì anh T và anh Lê Anh T phát hiện, kiểm tra và thu giữ trên người Q chiếc điện thoại mà Q vừa lấy trộm rồi trình báo cho công an phường TĐ. Công an phường TĐ đã đến hiện trường xác minh và yêu cầu Q về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra Đậu Minh Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 280/KL-ĐGTS ngày 30/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Thành phố Vinh kết luận trị giá của điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số Imei 3547093542755, máy đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 10 năm 2019 là 10.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quy định pháp luật.
Quyết định truy tố số 573/QĐ - VKS - HS ngày 08/11/2019 của VKSND thành phố V truy tố bị cáo Đậu Minh Q về tội "Trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i,s khoản 1 điều 51, điều 65 BLHS, xử phạt: Nguyễn Minh Q từ 9 - 12 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 18 -24 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại Nguyễn Minh T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo Đậu Minh Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai người bị hại, người liên quan,biên bản phạm tội quả tang, nội dung cáo trạng truy tố, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Ki ốt bán điện thoại di động “Tất Đạt Mobie” số 199, đường Lê Duẩn thuộc khối 7, phường TĐ, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Đậu Minh Q có hành vi trộm cắp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X đã qua sử dụng của anh Nguyễn Minh T. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Hành vi nêu trên mà bị cáo Đậu Minh Q thực hiện đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1Điều 173 BLHS.
. Về tính chất vụ án: vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, nhưng hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Vinh. Bị cáo là một thanh niên có sức khỏe, nhận thức đầy đủ nhưng do hám lợi nên đã phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt do có thái độ khai báo thành khẩn,lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng các tình tiết đó được quy định tại điểm i,s khoản 1 điều 51 BLHS. Nghĩ chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục học tập và cải tạo mình thành người công dân có ích.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
. Về trách nhiệm dân sự: anh Tín đã nhận lại tài sản không yêu cầu đền bù gì thêm nên miễn xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51, điều 65 BLHS, xử phạt: Đậu Minh Q 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã NH, huyện NĐ, tỉnh Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đậu Minh Q phải nộp 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSNDTP Vinh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Tỉnh NA
( Đã ký)
- Chi cục THADSTP Vinh;
- Công an TP Vinh;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- Sở tư pháp tỉnh Nghệ An
- Bị cáo; - Lưu HS
- Người bị hại.
| Nơi nhận: - VKSNDTP Vinh; - VKSND Tỉnh NA - Chi cục THADSTP Vinh; - Công an TP Vinh; - TAND Tỉnh A; - Sở tư pháp Tỉnh A - Bị cáo; - Lưu HS . | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) |