- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Thanh T - Mai Tấn P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T đối với bị đơn ông Mai Tấn P về việc tranh chấp ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 550/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Dòn
2. Ông Lại Hữu Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Tường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 239/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Nhà không số, tổ 11, ấp 1B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà T vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Mai Tấn P, sinh năm 1990
Địa chỉ: Nhà không số, tổ 11, ấp 1B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 28/11/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - Nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thanh T và ông Mai Tấn P bắt đầu chung sống từ năm 2021, do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh vào ngày 04/5/2021 theo giấy chứng nhận kết hôn số 13. Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng sống rất hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì xảy ra. Đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong gia đình, vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc gia đình không còn. Bà T và ông P đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Mai Tấn P.
Về con chung: Bà T xác nhận quá trình chung sống giữa bà và ông P không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Mai Tấn P tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Mai Tấn P vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ý kiến của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bằng bất cứ văn bản nào.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Mai Tấn P. Đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã V, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận “Đương sự Mai Tấn P, sinh năm 1990, không có đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú mà chỉ khai báo nơi ở hiện tại tại địa chỉ nhà không số, tổ 11, ấp 1B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 23/3/2023 đến tháng 10/2023 thì bỏ đi đâu không rõ”. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, còn bị đơn ông Mai Tấn P đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 13 do Ủy ban nhân dân xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cấp ngày 04/5/2021 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Thanh T và ông Mai Tấn P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo trình bày của bà T thì bà xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa bà và ông P là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong gia đình, vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc gia đình không còn. Còn ông Mai Tấn P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, đã tiến hành tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng có liên quan đến vụ án nhưng không thu thập được, điều này được thể hiện qua công văn số 1506/UBND ngày 16/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời cho Tòa án về thông tin xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà T, ông P.
Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân muốn có hạnh phúc thì phải bắt đầu từ tình cảm cả hai phía. Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Theo xác nhận của bà T thì bà xác định bà đã không còn tình cảm với ông P, giữa bà và ông P đã có một thời gian tương đối dài sống ly thân, điều này cho thấy ông P đã không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T.
Như vậy, bà T và ông P đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng. Cho nên, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Thanh T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông P vắng mặt không thể hiện ý kiến của ông về con chung giữa ông và bà T. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề con chung theo yêu cầu của bà T, Tòa án không đặt ra để giải quyết trong vụ án này, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
Về tài sản chung: bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông P vắng mặt không thể hiện ý kiến của ông về tài sản chung giữa ông và bà T. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản chung theo yêu cầu của bà T, Tòa án không đặt ra để giải quyết trong vụ án này, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
Về nợ chung: bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông P vắng mặt không thể hiện ý kiến của ông về nợ chung giữa ông và bà T. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu cầu của bà T, Tòa án không đặt ra để giải quyết trong vụ án này, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh T đối với bị đơn ông Mai Tấn P về việc tranh chấp ly hôn.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thanh T được ly hôn với ông Mai Tấn P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 13 do Ủy ban nhân dân xã Long Toàn, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh cấp ngày 04/5/2021 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Bà Bùi Thị Thanh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết.
1.3. Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Thanh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Bà Bùi Thị Thanh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí: Bà Bùi Thị Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0033265 ngày 28/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Bùi Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh (1); - VKSND H. Bình Chánh (2); - Chi cục THADS H. Bình Chánh (1); - UBND xã Long Toàn, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (1); - Các đương sự (2); - Lưu hồ sơ, VP (3). | Ngô Thị Thùy Dương |