- Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: Bà Trần Thị B - NBK: Ủy ban nhân dân (UBND) huyện BG, tỉnh Hải Dương-Vv: khiếu kiện quản lý về đất đai"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của UBND huyện BG, sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2017/HCST ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, đã quyết định:
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 550/2018/HCPT Ngày: 14/11/2018 V/v: khiếu kiện quản lý về đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Bình;
Các Thẩm phán: Ông Lương Đức chính;
Ông Nguyễn Văn Cường.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Song Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 66/2018/TLPT-HC ngày 29 tháng 3 năm 2018 về việc “Khiếu kiện quản lý về đất đai” do có kháng cáo của Ủy ban nhân dân huyện BG đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2017/HCST ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7166/2018/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2018 giữa:
1. Người khởi kiện: Bà Trần Thị B , sinh năm 1976; Địa chỉ: thôn PĐ , xã HK , huyện BG, tỉnh Hải Dương; bà B vắng mặt
2. Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân (UBND) huyện BG, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Trung K - Chủ tịch UBND huyện BG, tỉnh Hải Dương. Địa chỉ nơi làm việc: Thị trấn KS, huyện BG, tỉnh Hải Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chủ tịch UBND huyện BG, tỉnh Hải Dương - Ông Nguyễn Trung K. Địa chỉ nơi làm việc: Thị trấn KS, huyện BG, tỉnh Hải Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho UBND huyện BG và Chủ tịch UBND huyện BG: ông Lương Đức C -Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện BG (Theo Văn bản số 473/UBND-VP ngày 09/10/2018), có mặt.
- Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Đức T; Địa chỉ nơi làm việc: Số 45 QT, thành phố HD, tỉnh Hải Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 21/02/2008, UBND huyện BG ban hành Quyết định số 591/QĐ-UBND về việc thu hồi 12.435,34m2 tại ba xã Tân Việt, Hồng Khê, Thái Học, huyện BG giao cho cho ban quản lý các dự án giao thông thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương để nâng cấp, cải tạo đường 394 (đoạn từ Km10+500 đến Km13+700). Trong đó, có hộ gia đình bà Trần Thị B bị thu hồi 17,01m2.
Ngày 25/12/2008, UBND tỉnh Hải Dương ban hành Quyết định số 4967/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để cải tạo, nâng cấp đường 394.
Ngày 14/12/2010, UBND huyện BG ban hành quyết định thu hồi 18,48m2 đất của 27 hộ nằm ngoài phạm vi 6,25m tính từ tim đường 394 (141 hộ còn lại có diện tích bị thu hồi nằm trong phạm vi 6,25m tính từ tim đường nên UBND huyện không ban hành quyết định thu hồi đất). Hộ gia đình bà B không nhận được quyết định thu hồi đất đối với diện tích 17,01m2 đất bị thu hồi.
Ngày 16/12/2010, UBND huyện BG ban hành Quyết định số 2869/QĐ-UBND phê duyệt chi tiết phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung, trong đó bồi thường 18,48m2 đất ở của 27 hộ nằm ngoài phạm vi 6,25m tính từ tim đường.
Theo bà Trần Thị B nguồn gốc đất của gia đình bà nhận chuyển nhượng 109m2 đất ở từ ông Đỗ Huy V vào tháng 10/2000; đất ông V nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn Tống năm 1980; đất ông Tống có từ ngày 30/3/1976. Qua các lần chuyển nhượng đều được UBND xã HK làm thủ tục chứng thực; bà B sử dụng đất đất ổn định từ năm 2000 đến nay, không có tranh chấp với ai. Theo bản đồ 299 thì gia đình bà B có tên trong bản đồ số thửa 226, tờ bản đồ số 11; theo bản đồ 2001 có số thửa 164, tờ bản đồ số 04 diện tích 109m2. Khi Nhà nước sử dụng 17,01m2 đất của gia đình bà vào mục đích cải tạo, mở rộng, nâng cấp đường 394 nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt, không bồi thường mà chỉ hỗ trợ mức giá 50.000đ/m2, gia đình bà không đồng ý. Vì gia đình bà xác định diện tích 109m2 của gia đình bà là đất ở nên khi nhà nước thu hồi 17,01m2 trong diện tích này phải ban hành quyết định thu hồi và phải bồi thường theo giá thị trường.
Ngày 26/3/2013, Chủ tịch UBND huyện BG ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 901/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận khiếu nại của các hộ dân trong đó có hộ bà B.
Bà B tiếp tục có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương.
Ngày 30/10/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2687/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận khiếu nại của các hộ dân, trong đó có hộ bà B.
Ngày 25/3/2015, bà Trần Thị B khởi kiện, sau đó ngày 05/11/2016 bổ sung yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương:
- Buộc UBND huyện BG phải ban hành quyết định thu hồi diện tích đất của gia đình bà B 17,01m2 và bồi thường theo quy định của pháp luật đối với loại đất ở tại thời điểm ra quyết định thu hồi.
- Hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện BG liên quan việc không bồi thường đất cho hộ bà B.
- Hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương liên quan việc không bồi thường đất cho hộ bà B.
Theo UBND huyện BG và Chủ tịch UBND huyện BG:
Thực hiện các Quyết định số 1138/QĐ-UBND ngày 29/3/2006; Quyết định số 591/QĐ-UBND ngày 21/02/2008 của UBND tỉnh Hải Dương về việc phê duyệt dự án, thu hồi đất phục vụ dự án cải tạo nâng cấp đường 394 (Km12+500-Km13+700) đoạn qua xã HK , huyện BG. UBND huyện BG đã ban hành Quyết định số 893/QĐ-UBND ngày 30/8/2006 thành lập ban giải phóng mặt bằng, đồng thời triển khai giao nhiệm vụ cho ban Ban giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND xã HK tiến hành các quy trình về thu hồi đất như thông báo cho các hộ dân, đo đạc kiểm đếm, xác định loại đất, lập phương án đền bù, hỗ trợ việc thu hồi đất, tài sản trên đất.
Căn cứ các quy định về hành lang an toàn giao thông theo Nghị định số 203/NĐ-HĐBT ngày 21/12/1982; bản đồ 299; bản xác định nguồn gốc sử dụng đất ngày 04/10/2008, ngày 06/10/2010 do UBND xã HK lập, biên bản kiểm kê và các hồ sơ quản lý, sử dụng đất thể hiện đường 194 cũ (nay là 394) qua xã HK đoạn đường nhà bà B có chiều rộng 12,5m; diện tích 17,01m2 đất thu hồi thuộc dự án chiếm dụng tiếp giáp thửa đất của bà B thuộc đất hành lang giao thông do Nhà nước quản lý, không phải đất của hộ gia đình nên UBND huyện BG không ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt, không bồi thường mà chỉ hỗ trợ về đất đối với hộ bà B là đúng quy định của pháp luật.
Chủ tịch UBND huyện BG xác định việc ban hành Quyết định số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 về việc giải quyết khiếu nại là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Do đó, UBND huyện BG và Chủ tịch UBND huyện BG giữ nguyên hành vi hành chính, quyết định hành chính bị khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B.
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương:
Khi bà B có đơn khiếu nại, Chủ tịch UBND tỉnh đã thành lập đoàn cán bộ tiến hành thẩm tra xác minh các quy trình thực hiện đền bù hỗ trợ khi thu hồi đất hộ gia đình bà B và hơn 90 hộ dân khác tại thôn PĐ , xã HK , huyện BG. Căn cứ kết quả xác minh chủ tịch UBND tỉnh xác định chiều rộng mặt đường 394 mà UBND huyện BG xác định là 12,5m tuy chưa có cơ sở chính xác nhưng có lợi cho người dân nên chấp nhận phương án này, tuy nhiên tại Điều 2 của Quyết định số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 Chủ tịch UBND tỉnh đã giao cho UBND huyện BG tiến hành rà soát lại, nếu người dân chưa có các loại giấy tờ về sử dụng đất hợp pháp nhưng họ ra ở, sử dụng trước ngày 21/12/1982 mà được thể hiện trên bản đồ 299 thì xem xét bồi thường cho họ.
Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương xác định việc ban hành Quyết định số 2687/QĐ-UBND đúng trình tự, đúng pháp luật nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2017/HCST ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, đã quyết định:
Áp dụng Điều 30, 32, 193 Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 44, khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai 2003; Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007; Khoản 6 Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004; Nghị định 203/NĐ-HĐBT ngày 28/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B .
- Buộc UBND huyện BG phải ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt đối với diện tích 17,01m2 đất ở của hộ gia đình bà Trần Thị B để phục vụ dự án cải tạo, nâng cấp đường 394 đoạn qua xã HK (Km12+500 – Km13+700) huyện BG.
- UBND huyện BG phải thực hiện bồi thường cho gia đình bà Trần Thị B diện tích 17,01m2 đất bị thu hồi theo giá đất ở theo quy định của pháp luật.
- Hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện BG về nội dung không công nhận khiếu nại của bà Trần Thị B .
- Hủy một phần quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương về nội dung không công nhận khiếu nại của bà Trần Thị B .
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/10/2017, UBND huyện BG kháng cáo.
Ngày 05/10/2017, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 18/QĐ-VKS-HC; nội dung: đề nghị Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội áp dụng khoản 3 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015, hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2017/HCST ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích của UBND huyện BG và Chủ tịch UBND huyện BG trình bày: Tại Biên bản thẩm định ngày 18/9/2018 tổng diện tích gia đình bà B hiện đang sử dụng là 131m2; diện tích đo đạc năm 2001 là 109m2; diện tích đất tăng phía trước giáp đường 394 là 22m2. Từ đó có đủ căn cứ xác định diện tích 17,01m2 đất bị thu hồi không thuộc diện tích đất của gia đình bà B, mà thuộc đất hành lang giao thông, nên không ban hành quyết định thu hồi đất và bồi thường mà chỉ hỗ trợ công vượt lập cho hộ dân sử dụng đất; đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội:
Về thủ tục tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng hành chính. Đơn kháng cáo của UBND huyện BG đúng quy định của Luật tố tụng hành chính nên đủ điều kiện xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử công bố các tài liệu do UBND xã HK , UBND huyện BG giải trình về diện tích, biến động đất của mỗi hộ gia đình bị thu hồi đất, xác định việc thu hồi diện tích đất là đảm bảo đúng quy định, không ảnh hưởng tới diện tích đất thuộc quyền sử dụng của mỗi hộ. Xét thấy những vi phạm về việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm đã được Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội khắc phục và UBND huyện BG bổ sung, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy có đủ căn cứ chấp nhận kháng cáo của UBND huyện BG.
Tại Biên bản kiểm kê ngày 21/9/2006 thể hiện diện tích 17,01m2 là đất vượt lập và ông Trần Văn Kiệm đã xác nhận thay. Biên bản thẩm định ngày 18/9/2018 tổng diện tích gia đình bà B hiện đang sử dụng là 131m2; diện tích đo đạc năm 2001 là 109m2; diện tích đất tăng phía trước giáp đường 394 là 22m2. Từ đó có đủ căn cứ xác định diện tích 17,01m2 đất bị thu hồi không thuộc diện tích đất của gia đình bà B, mà thuộc đất hành lang giao thông. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B là thiếu căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính chấp nhận kháng cáo của UBND huyện BG, sửa bản án hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, nghe ý kiến trình bày của người bị kiện, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về tố tụng: Quyết định giải quyết khiếu nại số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 của Chủ tịch UBND huyện BG và Quyết định giải quyết khiếu nại số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính; đối với yêu cầu khi thu hồi đất phải ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt và bồi thường theo giá đất ở đã được giải quyết tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 901/QĐ-UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại số 2687/QĐ-UBND.Ngày 25/3/2015, bà B khởi kiện là vẫn còn thời hiệu khởi kiện; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại Điều 30, 32, khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
. Về nội dung:
. Về hình thức, trình tự, thẩm quyền ban hành Quyết định số 901/ QĐ-UBND và Quyết định số 2687/QĐ-UBND:
Theo quy định của Luật đất đai, Luật khiếu nại, Luật tổ chức chính quyền địa phương thì Chủ tịch UBND huyện BG và Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương ban hành các quyết định giải quyết khiếu nại là đảm bảo về hình thức và đúng về trình tự và thẩm quyền.
. Xét diện tích đất bị thu hồi:
Tại Biên bản kiểm kê ngày 21/9/2006 để phục vụ dự án cải tạo, nâng cấp đường thì diện tích đất của hộ bà B mà UBND sử dụng giải phóng mặt bằng là 17,01m2 đất vượt lập, phi nông nghiệp ông Trần Văn Kiệm ký thay.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 18/9/2018 thể hiện: Từ tim đường 394 đến mép đường 394 là 3,85m; từ tim đường 394 đến diện tích đất bà B đang sử dụng là 06m. Diện tích gia đình bà B đang sử dụng là 131m2 đất ở nông thôn, diện tích đo đạc năm 2001 là 109m2; diện tích đất tăng phía trước đường thửa đất giáp đường 394 là 22m2. Từ đó có đủ căn cứ xác định diện tích 17,01m2 đất bị thu hồi không thuộc diện tích đất của gia đình bà B, mà thuộc đất hành lang giao thông.
Phía người bị kiện cho rằng diện tích thu hồi của hộ bà B 17,01m2 thuộc công trình giao thông, không thu hồi vào đất của hộ bà B nên UBND huyện đã không ban hành quyết định thu hồi đất và bồi thường về đất cho hộ bà B mà chỉ hỗ trợ công bồi đắp là có cơ sở.
Như vậy, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B cho rằng phải ban hành quyết định thu hồi đối với diện tích 17,01m2 đất và phải bồi thường theo giá đất ở tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu huỷ một phần Quyết định số 901/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện BG và Quyết định số 2687/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương. Tòa án cấp sơ thẩm đã chưa đánh giá đúng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; không thẩm định hiện trạng hộ gia đình bà B đang sử dụng diện tích đất để xem xét diện tích đất gia đình bà B bị thu hồi 17,01m2 là đất ở hay đất vượt lập, mà đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B là không chính xác. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận kháng cáo của UBND huyện BG và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sửa bản án sơ thẩm.
.Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của UBND huyện BG được chấp nhận nên không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm. Bà Trần Thị B phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương và Chủ tịch UBND huyện BG không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Về chi phí thẩm định phía UBND huyện BG tự nguyện chịu mọi chi phí, nên không yêu cầu người khởi kiện phải chịu chi phí thẩm định.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.
Chấp nhận kháng cáo của UBND huyện BG, sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2017/HCST ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, đã quyết định:
Bác yêu cầu buộc UBND huyện BG ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt diện tích 17,01m2 của bà Trần Thị B .
Bác yêu cầu hủy một phần Quyết định số 901/QĐ-UBND ngày 26/3/2013 giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện BG liên quan đến quyền và lợi ích của bà B.
Bác yêu cầu hủy một phần Quyết định số 2687/QĐ-UBND ngày 30/10/2014 giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương liên quan đến quyền và lợi ích của bà B.
Bác yêu cầu buộc UBND huyện BG phải bồi thường cho bà B diện tích 17,01m2 đất với giá theo quy định của pháp luật tại thời điểm bồi thường đối với loại đất ở.
Về án phí: UBND huyện BG không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm; hoàn trả cho UBND huyện BG 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0002338 ngày 26/10/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương và Chủ tịch UBND huyện BG không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Bà Trần Thị B phải chịu 300.000đồng án phí hành chính sơ thẩm được đối trừ 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AB/2014/0004363 ngày 17/3/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu HS, HCTP. CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Văn Cường Lương Đức Chính | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Bình THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Bình |