- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội:“Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án 55/2019/HSST Ngày: 15/ 5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quàng Văn Minh
2. Ông Nguyễn Văn Đình
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đình Hiếu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 15/5/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2019/HSST ngày 23/4/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HS ngày 04/5/2019 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn M. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1985; Giới tính: Nam. Nơi ĐKNKTT: Đội 11, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên: Chỗ ở: Đội 6, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn H, không rõ năm sinh và nghề nghiệp. Chỗ ở Tỉnh Hà Nam. Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T sinh năm: 1958. Bị cáo có vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1984 đã ly hôn năm 2018, bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án; Tiền sự: Không: Nhân thân: Ngày 21/5/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc, bản án này hiện đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/02/2019, bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Những người bị hại: Anh Hoàng Thanh P, sinh năm 1980. Trú tại Đội 4, xã T, huyện Đ, tỉnh ĐB (có đơn xin xét xử mặt).
Anh Nguyễn Đình M, sinh năm 1970. Trú tại tổ dân phố 17, phường Mường T TP Đ, tỉnh ĐB (có đơn xin xét xử mặt).
Chị Bùi Thị T, sinh năm 1989 và anh Nguyễn Minh K, sinh năm 1988. Trú tại Đội 6, xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Đ. ( có đơn xin xét xử vắng mặt )
Anh Lò Văn B, sinh năm 1992. Trú tại tổ dân phố 5, phường Thanh T, TP Điện Biên phủ, tỉnh ĐB (có đơn xin xét xử mặt).
3. Người làm chứng: Bùi Thị T, sinh năm 1984. Trú tại Đội 6, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (có mặt)
NỘI DUNG VU ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn M đã ly hôn với Bùi Thị T, nhưng thường xuyên đến ở cùng Bùi Thị T tại đội 6, xã T, huyện Đ. Do muốn có tiền mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân nên trong thời gian từ ngày 18/01/2019 đến ngày 25/01/2019, Nguyễn Văn M đã nhiều lần lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn thành phố Điện BP và huyện Đ cụ thể:
Lần 1: Khoảng 00 giờ ngày 18/01/2019, Nguyễn Văn M điều khiển xe môtô hiệu Dream không biển kiểm soát (mượn của một người tên Bảo không rõ họ tên và địa chỉ) mang theo chiếc kìm điện cán nhựa màu đỏ đen dài 09cm từ đội 6, xã Thanh Hưng đến xã T, huyện Đ xem ai sơ hở về tài sản thì trộm cắp. Khi đến đội 4, xã T, huyện Đ, M thấy chiếc xe ôtô tải biển kiểm soát 27C- 005.01 của anh Hoàng Th Ph trú tại đội 4, xã T, huyện Đ đỗ ở đường, không có ai trông coi. M lén lút, bí mật dùng chiếc kìm điện tháo lấy trộm 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS95D31R-E loại12V trị giá 1.800.000đ; 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V trị giá 1.900.000đ) Sau đó M mang 02 chiếc bình ắc quy về giấu vào ngăn tủ quần áo của M trong nhà chị T nên chị T không biết. Khoảng 07 giờ ngày 18/01/2019, khi chị T đưa các con đi học, M đã bán 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V cho một người phụ nữ thu mua phế liệu ở đường được 230.000đ và đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần 2: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/01/2019, lợi dụng đêm khuya mọi người đi ngủ, nơi lỏng việc trông coi bảo vệ tài sản, M tiếp tục điều khiển xe môtô mượn của một người tên Bảo mang theo chiếc kìm điện đi tìm xem ai sơ hở sẽ trộm cắp tài sản. Khi đi đến tổ dân phố 17, phường M, thành phố ĐBP, M thấy chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 27C- 020.44 của anh Nguyễn Đình M không có ai trông coi. M đã lén lút, bí mật dùng chiếc kìm điện tháo lấy 01 bình ắc quy màu đen nhãn hiệu ROCKET loại 12V trị giá 1.500.000đ trên xe ôtô mang về cất giấu trong phòng vệ sinh nhà chị T.
Lần 3: Sau khi cất giấu chiếc bình ắc quy nhãn hiệu ROCKET vừa trộm được, khoảng 01 giờ ngày 21/01/2019, M tiếp tục mang theo kìm điện, điều khiển xe đi lên cây xăng A1 thuộc tổ dân phố 5, phường Thanh Tr thành phố Đ quan sát thấy chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-196.11 của anh Lò Văn B đỗ cạnh cây xăng, M đã lén lút, bí mật dùng chiếc kìm điện tháo lấy 01 bình ắc quy màu đen nhãn hiệu GSN 120E loại 12 120Ah trị giá 2.100.000đ của xe ôtô mang về cất giấu trong phòng tắm nhà chị Tuyết lúc này chị T và các con ngủ say không biết. Đến khoảng 07 giờ ngày 21/01/2019, khi T và các con ngủ dậy đi sinh hoạt cá nhân thì thấy 02 chiếc bình ắc quy trong nhà tắm và nhà vệ sinh T hỏi thì M nói là của bạn gửi nên T không hỏi gì thêm.
Lần 4: Khoảng 19 giờ ngày 25/01/2019, Nguyễn Văn M ở một mình tại nhà của chị Bùi Thị T thì thấy Bùi Thị T tắt điện, biết không có ai ở nhà, M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. M đi lên sân thượng nhà T rồi lén lút, bí mật trèo lên mái nhà chị T giáp bên cạnh nhà T, dùng chiếc kìm điện vặn ốc tấm tôn kích thước (2,47x1,08)m trên mái nhà ở giữa phòng ngủ thứ hai và gian bếp, tạo khe hở chui vào trong nhà. M vào phòng ngủ của chị T dùng điện thoại Nokia 105 bật đèn soi và thấy trên chiếc bàn gỗ ép trong phòng có 01 phong bì thư bưu điện đã mở. M cầm lên xem thấy bên trong có 1.000.000đ, M lấy số tiền đó cho vào túi quần sau bên phải, bỏ lại phong bì. M tiếp tục tìm dưới gầm bàn thấy 01 con lợn nhựa tiết kiệm màu vàng, M vào nhà tắm lấy 01 con dao lam màu trắng hiệu Dorco rạch lợn nhựa ra lấy hết số tiền trong con lợn cho vào túi áo ngực cất dao lam vào chỗ cũ rồi trèo theo lối cũ thoát ra ngoài. M lắp tấm tôn mái nhà lại như cũ, xuống bếp cất chiếc kìm rồi ra khu vực bờ mương thuộc đội 6 xã T bỏ số tiền lấy trong con lợn ra đếm được 2.360.000đ. Sau đó, M dùng 300.000đ mua heroine của 01 một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ tại bờ mương thuộc đội 8, xã Thanh H sử dụng hết và trở về nhà chị T. Đến khoảng 4 giờ ngày 26/01/2019, M cất giấu 520.000đ trộm cắp được vào trong quyển vở trên giá sách trong phòng ngủ nhà T rồi đi ngủ. Khoảng 06 giờ cùng ngày M dùng 300.000đ đi mua heroine của 01 người 01 người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ, tại khu vực bản Món, xã T và sử dụng hết. Số tiền còn lại M đã chi tiêu cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL- ĐG ngày 19/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Điện Biên, đã xác định giá trị:
01 bình ắc quy nhãn hiệu GSN 120E loại 12 120Ah trị giá 2.100.000đ.
01 bình ắc quy màu đen nhãn hiệu ROCKET loại 12V trị giá 1.500.000đ
01 bình ắc quy nhãn hiệu GS 95D 31R-E loại12V trị giá 1.800.000đ;
01 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V trị giá 1.900.000đ
Tổng cộng 4 bình ắc quy là 7.300.000đ
01 con lợn nhựa màu vàng giá trị 20.000đ
01 con dao lam màu trắng hiệu Dorco giá trị 5000đ. Tổng cộng 25.000đ
Số tiền mặt bị cáo trộm tại nhà chị Bùi Thị Tâm là 3.360.000đ.
Tổng giá trị tài sản 04 lần do bị cáo Mạnh trộm cắp là 10.660.000đ (mười triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, chị Bùi Thị T còn khai số tiền tiết kiệm trong con lợn nhựa bị mất là 10.000.000đ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chỉ có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh M đã trộm cắp số tiền là 3.360.000đ.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKS- HĐB ngày 23/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173/BLHS. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về “Tội trộm cắp tài sản”; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173/BLHS; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52/BLHS; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn M hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố của VKSND huyện Đ không có ý kiến gì tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.
Những người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, còn về hình phạt đề nghị xét xử bị cáo đúng pháp luật;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như bản cáo trạng của VKS đã truy tố đối với bị cáo.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Nhằm thõa mãn nhu cầu tiêu sài cá nhân và mua ma túy sử dụng, bản thân lười lao động bị cáo M đã lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu tài sản lợi dụng đêm khuya không ai trông coi tài sản mất cảnh giác, M đã 04 lần lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác cụ thể:
Lần 1: Vào ngày 18/01/2019, Nguyễn Văn M trộm 02 bình ắc quy xe ôtô trong đó (01 bình ắc quy nhãn hiệu GS 95D 31R-E loại 12V trị giá 1.800.000đ; và 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V trị giá 1.900.000đ) của anh Hoàng Thanh P.
Lần 2: Ngày 21/01/2019, Mạnh đã lén lút, bí mật dùng chiếc kìm điện tháo lấy 01 bình ắc quy màu đen nhãn hiệu ROCKET loại 12V trị giá 1.500.000đ của anh Nguyễn Đình M.
Lần 3: Ngày 21/01/2019, Mạnh trộm lấy 01 bình ắc quy màu đen nhãn hiệu GSN 120E loại 12V 120Ah trị giá 2.100.000đ của anh Lò Văn B đỗ cạnh cây xăng A1.
Lần 4: Ngày 25/01/2019, Nguyễn Văn M trộm tiền của nhà chị Bùi Thị T là 3.360.000đ
Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã hoàn thành, theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản huyện Điện Biên định, đã xác định giá trị
01 bình ắc quy nhãn hiệu GSN 120E loại 12 120Ah trị giá 2.100.000đ.
01 bình ắc quy màu đen nhãn hiệu ROCKET loại 12V trị giá 1.500.000đ
01 bình ắc quy nhãn hiệu GS 95D 31R-E loại12V trị giá 1.800.000đ;
01 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V trị giá 1.900.000đ
Tổng cộng 4 bình ắc quy là 7.300.000đ
01 con lợn nhựa màu vàng giá trị 20.000đ
01 con dao lam màu trắng hiệu D rco giá trị 5000đ.Tổng cộng 25.000đ
Số tiền mặt bị cáo trộm cắp tại nhà chị Bùi Thị T là 3.360.000đ.
Tổng giá trị tài sản 04 lần do bị cáo Mạnh trộm cắp là 10.660.000đ ( mười triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173/BLHS.
Trong khoảng thời gian liên tiếp từ ngày18/01/2019 đến ngày 25/01/2019 Nguyễn Văn M đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn thành phố Đ và huyện Đ, trong đó có 03 lần mà mỗi lần giá trị tài sản bị cáo chiếm đọat đều trên 2.000.000đ nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: "Phạm tội 02 lần trở lên" theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52/BLHS.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
. Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy : Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại về tài sản cho các chủ sở hữu tài sản, làm ảnh hưởng đến nền trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn thành phố Đ và huyện Đ, cho nên hành vi của bị cáo cần được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cho thấy: Bị cáo xuất thân từ gia đình nông dân thuần túy bản thân học đến lớp 9 thì bỏ học đến năm 2017 bị cáo sử dụng ma túy. Ngày 21/5/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử 12 tháng cải tạo không giam giữ, buộc bị cáo nộp phạt 3.000.000đ về tội đánh bạc bản án này hiện đã xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo có nhân thân xấu.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi hành vi trộm cắp ngày 25/01/2019 bị phát hiện bị cáo đã tự mình khai ra các lần phạm tội trước đó nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: " Thành khẩn khai báo" và " người phạm tội tự thú". Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, và điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo phậm tội nhiều lần mà mỗi lần giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt đều trên 2.000.000đ nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:" Phạm tội 02 lần trở lên" theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52/BLHS.
HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, tiếp tục cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173/BLHS thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền; Song xét thấy điều kiện kinh tế rất khó khăn thuộc hộ nghèo lại là đối tượng nghiện ma túy không có khả năng thi hành, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp của những người bị hại gồm:
01 bình ắc quy nhãn hiệu GSN 120E loại 12V 120Ah trị giá 2.100.000đ của anh Lò Văn B, 01 bình ắc quy màu đen nhãn hiệu ROCKET loại 12V trị giá 1.500.000đ của anh Nguyễn Đình M, 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS 95D 31R-E loại12V trị giá 1.800.000đ và 01 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V trị giá 1.900.000đ của anh Hoàng Thanh P. Cơ quan điều tra đã trả lại 03 chiếc bình ắc quy cho các bị hại. Còn số tiền 520.000đ đã trả lại cho chị Bùi Thị T . Còn 01 chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V trị giá 1.900.000đ của anh Hoàng Thanh Ph bị cáo đã bán cho một người phụ nữ không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Tại phiên tòa hôm nay những người bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì HĐXX chấp nhận.
Đối với người phụ nữ thu mua phế liệu, đã mua chiếc bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 12V của M do không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản và không có cơ sở để xử lý. Do vậy HĐXX không đề cập xử lý.
Đối với Bùi thị T mặc dù đã ly hôn nhưng lại cùng chung sống với bị cáo. T không biết việc M trộm cắp tài sản và cất giấu tại nhà mình nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với Bùi Thị T, HĐXX không có đủ chứng cứ để xử lý Bùi Thị Tuyết.
Bị cáo khai số tiền bán tài sản trộm cắp được đã mua ma túy của 01 người đàn ông dân tộc thái không biết tên và địa chỉ tại bờ mương thuộc đội 8, xã T, huyện Đ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.
.Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Khoản 1 Điều 48 /BLHS và khoản 3 Điều 106/ BLTTHS:
- Chấp nhận các biên bản trao trả tài sản cho những người bị hại: Hoàng Thanh Ph, Nguyễn Đình M, Lò Văn B, Bùi Thị T của Công an huyện Đ vào các ngày 25, 26, 27 tháng 02/2019 và biên bản ngày 01/03/2019.
Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu để tiêu hủy: 01 con lợn nhựa màu vàng; 01 chiếc kìm điện; 01 phong bì thư bưu điện. 01 phong bì niêm phong bên trong có một nửa con dao lam cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu bán hóa giá xung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động dạng bàn phím nhãn hiệu Nokia 105. (Vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2019).
. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo thuộc diện miễn án phí. Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo được miễn toàn bộ án phí HSST.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173/BLHS; Điểm r, s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52/BLHS năm 2015;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội:“Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M: 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (02/02/2019).
2. Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Khoản 1 Điều 48 /BLHS và khoản 3 Điều 106/ BLTTHS:
- Chấp nhận các biên bản trao trả tài sản cho những người bị hại: Hoàng Thanh Ph, Nguyễn Đình M, Lò Văn B, Bùi Thị T của Công an huyện Đ vào các ngày 25, 26, 27 tháng 02/2019 và biên bản ngày 01/03/2019.
Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu để tiêu hủy: 01 con lợn nhựa màu vàng, có một vết bị rạch ở ngang lưng có chiều dài 30cm; 01 chiếc kìm điện chiều dài 9cm, phần tay cầm của kìm được bọc bằng nhựa màu đỏ đen có chiều dài 5cm, phần gọng kìm bằng kim loại màu nâu đen dài 4cm; 01 phong bì thư bưu điện nửa bên trái dán kín, nửa bên phải bị xé rách. 01 phong bì niêm phong bên trong có một nửa con dao lam cũ đã qua sử dụng. Tịch thu bán hóa giá xung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động dạng bàn phím nhãn hiệu Nokia 105, mặt bàn phím màu đen, mặt sau của điên thoại màu xanh, có số serial 358925075171062 theo biên bản bàn giao vật chứng giữa công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ ngày 25/4/2019
3. Án phí: Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Nguyễn Văn M được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người bị hại Hoàng Thanh Ph, Nguyễn Đình M, Lò Văn B, Bùi Thị T, Nguyễn Minh K vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính, hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Bộ phận HNV CAH Đ; - Sở TP tỉnh Điện Biên; - CCTHADS huyện Đ; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạc Thị Liên |