vanban.org

Bản án 55/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Lương T phạm tội Cố ý gây thương tích.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Lương T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ khi bị bắt để tạm giam là ngày 09/10/2025. Về tang vật: Tịch thu để tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen, có quai cài, phía sau có hình con ong vàng, có dòng chữ “matong”, “Hàng tặng khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị Lương T - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Lương T phạm tội Cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

`` +
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
Bản án số: 55/2026/HS-ST
Ngày 09-02-2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đình Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Xây;

Bà Nguyễn Thị Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2026/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Hoàng Thị Lương T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 24 tháng 02 năm 1984 tại Lạng Sơn; số căn cước công dân: 020184003349; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số 04, ngõ 109, đường D, khối 12, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Lương Thị B; có chồng là Phương Ngọc T (đã ly hôn) và có 04 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 01/2021/HS-ST ngày 19/01/2021 của Tòa nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa); tại Quyết định số 03400/QĐ/XPVPHC ngày 14/03/2008 của Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (đã hết thời hiệu, hiện được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); tại Quyết định số 01795/QĐ/XPVPHC ngày 12/07/2010 của Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (đã hết thời hiệu, hiện được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị bắt để tạm giam từ ngày 09/10/2025 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị H là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn, có mặt;

- Bị hại: Bà Đào Thị K, sinh năm 1954; địa chỉ: Số 28B, đường B1, phường L, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Ông Cam Văn Đ, vắng mặt;

2. Bà Vũ Thị G, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Hoàng Thị Lương T và bà Đào Thị K có mâu thuẫn từ trước do bị cáo Hoàng Thị Lương T cho rằng bà Đào Thị K nói xấu mình. Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 20/9/2025, bị cáo Hoàng Thị Lương T ngồi sau xe mô tô do ông Cam Văn Đ điều khiển. Khi đi đến khu vực giao nhau giữa đường Lê Hồng Phong - T2 - Nhị Thanh, phường T2, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Hoàng Thị Lương T nhìn thấy bà Đào Thị K đang ngồi uống nước tại quán nước của bà Vũ Thị G tại số 11, ngõ 5, khối 6, đường T2, phường T2. Do bực tức từ mâu thuẫn trước đó, bị cáo Hoàng Thị Lương T yêu cầu ông Cam Văn Đ dừng xe trước quán nước, rồi đi đến chỗ bà Đào Thị K, dùng tay phải tháo mũ bảo hiểm đang đội trên đầu và dùng mũ bảo hiểm đánh 01 phát vào vùng gáy của bà Đào Thị K. Khi bà Đào Thị K quay người lại, bị cáo Hoàng Thị Lương T tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đánh 01 phát vào vùng sống mũi của bà Đào Thị K gây thương tích. Sau đó bị cáo Hoàng Thị Lương T bỏ lại mũ bảo hiểm tại quán nước, lên xe mô tô yêu cầu ông Cam Văn Đ chở bị cáo rời khỏi hiện trường. Cùng ngày, bà Đào Thị K đến Công an phường T2, tỉnh Lạng Sơn trình báo vụ việc.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 258/KLTTCT-TTPY ngày 02/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Đào Thị K là 13%.

Về dân sự: Quá trình điều tra vụ án bà Đào Thị K yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo chưa bồi thường.

Tại Cáo trạng số 109/CT-VKSKV1 ngày 15 tháng 01 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn để xét xử đối với bị cáo Hoàng Thị Lương T về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phần tranh tụng:

Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa bị hại bà Đào Thị K không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và yêu cầu xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Lương T về tội Cố ý gây thương tích.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2025;

Về mức hình phạt, đề nghị: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Lương T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về dân sự: Không buộc bị cáo Hoàng Thị Lương T phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại bà Đào Thị K, do bị hại tự nguyện rút yêu cầu.

Về vật chứng, đề nghị: Tịch thu để tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen, có quai cài, phía sau có hình con ong vàng, có dòng chữ “matong”, “Hàng tặng không bán, trao gửi yêu thương”, do là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí, đề nghị: Bị cáo thuộc hộ nghèo, nên miễn nộp án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo, tranh luận: Về hành vi phạm tội và điều luật áp dụng đều nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, tuy nhiên do bị cáo nhận biết pháp luật còn hạn chế và thực hiện hành vi phạm tội bột phát, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, các con của bị cáo còn nhỏ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị và xử phạt mức án đầu khung hình phạt của điều luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa cho mình.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái pháp luật, xin Hô ̣i đồng xét xử giảm nhe ̣ mứ c hinh pha ̣t cho để bị cáo được sớm trở về

̀

với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, bị cáo và bị hại và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra và vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiến hành xét xử vụ án.

Quá trình tranh tụng tại phiên tòa và đối chứng với các lời khai của bị cáo, bị hại và người làm chứng tại Cơ quan điều tra và các tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 20 tháng 9 năm 2025, tại khu vực giao nhau giữa đường Lê Hồng Phong - T2 - Nhị Thanh, phường T2, trước của số nhà 11, ngõ 5, khối 6, đường T2, phường T2, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Hoàng Thị Lương T đã thực hiện hành vi dùng mũ bảo hiểm là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng gáy và vùng sống mũi của bà Đào Thị K làm bà Đào Thị K bị thương tích và chỉ vì ý nghĩ không có cơ sở, cho rằng Đào Thị K nói xấu mình mà bị cáo Hoàng Thị Lương T vô cớ dùng mũ bảo hiểm làm hung khí đánh bị hại gây thương tích 13% cơ thể. Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Thị Lương T phạm tội Cố ý gây thương tích với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và phạm tội có tính chất côn đồ. Nhận thấy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Thị Lương T về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, ảnh hưởng xấu đến an ninh trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính coi thường sức khỏe của người khác mà cố ý phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo gây thương tích cho bị hại bà Đào Thị K, sinh năm 1954 là đã trên 70 tuổi. Do đó, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tại phiên tòa bị hại bà Đào Thị K xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo đã bị từng kết án và bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà cố ý phạm tội. Do đó, đây cũng là tình tiết xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.

Về dân sự: Bà Đào Thị K không yêu cầu bị cáo Hoàng Thị Lương T phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Do đó, Hội đồng xét xử không buộc bị cáo Hoàng Thị Lương T phải bồi thường cho bị hại bà Đào Thị K.

Về vật chứng: 01 mũ bảo hiểm màu đen, có quai cài, phía sau có hình con ong vàng, có dòng chữ “matong”, “Hàng tặng không bán, trao gửi yêu thương”, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với ông Cam Văn Đ không biết trước, không được bàn bạc và xúi giục, giúp sức bị cáo Hoàng Thị Lương T thực hiện hành vi gây thương tích cho bà Đào Thị K. Do đó, không liên quan đến vụ án này.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội bị cáo và đề nghị giải quyết toàn bộ nội dung vụ án là đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo dưới mức đại diện viện kiểm sát đề nghị. Nhận thấy, bị cáo đã bị từng bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần, bị cáo không chấp hành quy định của pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác và phạm tội với người từ 70 tuổi trở lên. Do đó, xử phạt bị cáo mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, miễn nộp tiền án phí cho bị cáo, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh, tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Lương T phạm tội Cố ý gây thương tích.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Lương T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ khi bị bắt để tạm giam là ngày 09/10/2025.

3. Về tang vật: Tịch thu để tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen, có quai cài, phía sau có hình con ong vàng, có dòng chữ “matong”, “Hàng tặng không bán, trao gửi yêu thương” (Tang vật được miêu tả chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn)

4. Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Thị Lương T.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ