- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ VĂN N- XIN LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2026/HNGĐ-ST Ngày: 25/02/2026 V/v:“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Hoàng Nam;
2. Bà Phan Ngọc Cẩm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Nhã- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.
Ngày 25 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc "Tranh chấp ly hôn và nuôi con " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2026/QĐXX-ST ngày 29 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Văn N, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, tỉnh An Giang.
(Anh N có mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, tỉnh An Giang.
(Chị T có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn anh Lê Văn N trình bày: Vào năm 2014 anh và chị Nguyễn Thị Kiều T cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 08/01/2014.
Cuộc sống chung vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thời gian đến năm 2024 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, chủ yếu về vấn đề kinh tế thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa và đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay.
Nay anh xét thấy không còn tình cảm với chị T nữa nên anh quyết định ly hôn với chị T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống anh và chị T có 01 con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 30/4/2015 hiện nay đang sống cùng anh.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn về phần nợ thì vợ chồng cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, anh Lê Văn N yêu cầu:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Kiều T
- Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 30/4/2015 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày tại bản tự khai và đơn xin vắng mặt ngày 13/01/2026 như sau: Chị T thống nhất theo ý kiến trình bày của anh N về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng.
Nay anh N yêu cầu xin ly hôn với chị thì ý kiến anh như sau:
- Về hôn nhân: Đồng ý ly hôn với anh Lê Văn N
- Về con chung: Đồng ý giao con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 30/4/2015 cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa anh N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị T. Chị T có đơn xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh N khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn chị T có địa chỉ ấp Đ, xã L, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang đã triệu tập hợp lệ chị T tham gia phiên tòa nhưng bị đơn chị T vẫn tiếp tục vắng mặt và có đơn xin vắng mặt đồng thời tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng chị T là phù hợp theo quy định pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Anh N và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2014 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2024 anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo anh N nguyên nhân chủ yếu về vấn đề kinh tế thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Thực tế vợ chồng anh đã sống trong tình trạng ly thân trong thời gian từ năm 2024 cho đến nay và vấn đề này cũng được chị T xác nhận đồng thời chị T cũng đồng ý ly hôn với anh N. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh N và chị T đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N, xử cho anh N được ly hôn chị T là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Về quan hệ con chung: Anh N và chị T xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 01 con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 30/4/2015. HĐXX xét thấy từ khi vợ chồng anh chị sống ly thân với nhau đến nay cháu T1 sống cùng anh N và anh N cũng có yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng đồng thời chị T tự nguyện đồng ý giao cháu T1 cho anh N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cũng phù hợp theo nguyện vọng của con nên cần tiếp tục giao cháu T1 cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp theo quy định pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã giải thích cho anh N về quyền yêu cầu về quyền, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng anh N xác định không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, xét thấy việc anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh N xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời cũng phù hợp theo ý kiến trình bày của chị T. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[6] Về nợ chung: Anh N xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời cũng phù hợp theo ý kiến trình bày của chị T nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh N là nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Văn N và chị Nguyễn Thị Kiều T.
2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh N và chị T là giao con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 30/4/2015 cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi (Phù hợp theo nguyện vọng của con), chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Anh N và chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Anh N và chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Anh N phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0005614 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh A; anh N không phải nộp thêm.
“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 5- An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - Các đương sự; - UBND xã Hoà Hưng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lữ Cẩm Nhung |