- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Bé M với bị đơn là ông Trương Hoài Nh"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2026/HNGĐ-ST Ngày: 11-3-2026 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Trọng Tâm
2. Ông Huỳnh Hoàng Khởi
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 37/2026/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 408/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bé M, sinh ngày 01/01/1990 (Vắng mặt và có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
CCCD số xxxxxxxxxxxx, Cục CSQLHC về trật tự xã hội cấp ngày 15/02/2022.
Địa chỉ: Số 35, Khóm M, phường T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Trương Hoài Nh, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Nhà không số, Khóm M, phường T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/01/2026 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Lê Thị Bé M trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trương Hoài Nh sống chung từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Nay là Ủy ban nhân dân phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau) vào ngày 25/5/2022. Thời gian đầu bà và ông Nh chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà và ông Nh bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng phát sinh nhiều hơn mà bà và ông Nh không khắc phục được, bà và ông Nh đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng hơn một năm nay. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Nh không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trương Hoài Nh.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông Trương Hoài Nh có một người con chung tên Trương Tuấn K, sinh ngày 20/11/2021; hiện con đang sống cùng ông Nh. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu giao con cho ông Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống bà và ông Trương Hoài Nh không có tài sản chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ thu, nợ trả: Trong thời gian chung sống bà và ông Trương Hoài Nh không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng ông bà, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là ông Trương Hoài Nh được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà ông Nh không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Bé M. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn là ông Trương Hoài Nh vắng mặt không lý do nên không nghe được ý kiến của ông Nh về yêu cầu ly hôn của bà M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa bà Lê Thị Bé M và ông Trương Hoài Nh là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại Khóm M, phường T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng nguyên đơn là bà Lê Thị Bé M vắng mặt và có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Trương Hoài Nh vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà M và ông Nh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bé M và ông Trương Hoài Nh tự nguyện tiến đến hôn nhân, căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Nay là Ủy ban nhân dân phường Tân Thành, tỉnh Cà Mau) ký vào ngày 25/5/2022 nên đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông Nh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Theo bà M trình bày thì thời gian đầu bà và ông Nh chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà và ông Nh bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng phát sinh nhiều hơn mà bà và ông Nh không khắc phục được, bà và ông Nh đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng hơn một năm nay; nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Nh không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trương Hoài Nh. Đối với ông Trương Hoài Nh, trong quá trình tố tụng ông Nh đã nhận biết được thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án nhưng ông Nh không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Bé M, như vậy ông Nh đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân đối với bà M. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà Lê Thị Bé M và ông Trương Hoài Nh đã không còn, bà M cương quyết ly hôn, ông Nh biết được sự việc nhưng không có thiện chí hàn gắn, cả hai đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng hơn một năm nay, bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, điều này cho thấy hôn nhân giữa bà M và ông Nh đã không còn hạnh phúc và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà M là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Theo bà Lê Thị Bé M trình bày thì trong thời gian chung sống bà và ông Trương Hoài Nh có một người con chung tên Trương Tuấn K, sinh ngày 20/11/2021. Xét thấy cháu K còn nhỏ và hiện nay đang sống ổn định cùng ông Nh; bà M yêu cầu giao cháu K cho ông Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, ông Nh không có ý kiến gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K cho ông Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Bé M không cấp dưỡng nuôi con, ông Trương Hoài Nh không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Theo bà Lê Thị Bé M trình bày thì trong thời gian chung sống bà và ông Trương Hoài Nh không có tài sản chung, bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Nh không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ thu, nợ trả: Theo bà Lê Thị Bé M trình bày thì trong thời gian chung sống bà và ông Trương Hoài Nh không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng ông bà, bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Nh không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bé M. Bà Lê Thị Bé M được ly hôn với ông Trương Hoài Nh.
- Về con chung: Giao con chung tên Trương Tuấn K, sinh ngày 20/11/2021 cho ông Trương Hoài Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Bà Lê Thị Bé M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của ông Trương Hoài Nh.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: Đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ thu, nợ trả: Đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lê Thị Bé M phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được đối trừ số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000848 ngày 20 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, sau khi đối trừ bà M đã nộp đủ.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 1 - Cà Mau; - THADS tỉnh Cà Mau; - UBND phường Tân Thành, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Ngọc Huyền |