- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị N và anh K"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:55 /2025/ST-HNGĐ Ngày 10/9/2025 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Huyền; Ông Cao Đăng Sâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Thị N - sinh năm 2002 - có mặt.
- Bị đơn: Anh Trƣơng Văn K - sinh năm 2000 - vắng mặt.
Đều trú tại: Bản L, xã C, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Vi Thị N trình bày: Chị Vi Thị N và anh Trương Văn K kết hôn vào ngày 07/3/2022, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An ( nay là xã C, tỉnh Nghệ An), việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được 02 năm thì bắt đầu xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống không hòa hợp, anh K không quan tâm đến gia đình, không biết yêu thương, quan tâm đến vợ con, vợ chồng không chia sẻ với nhau những khó khăn trong cuộc sống nên tình cảm dần phai nhạt. Từ tháng 11/ 2024 chị N về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh K cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, chị Vi Thị N làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn K. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung Trương Hải Đ, sinh ngày 08/4/2022, nếu ly hôn chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Vi Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị N không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Trương Văn K đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 9 – Nghệ An phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vi Thị N. Cho chị Vi Thị N được ly hôn với anh Trương Văn K và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao con chung Trương Hải Đ, sinh ngày 08/4/2022 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại bản L, xã C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân Khu Vực 9 _ Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Vi Thị N và anh Trương Văn K tại UBND xã C cho biết, sau khi đăng ký kết hôn chị N và anh K sinh sống tại bản L, xã C, tỉnh Nghệ An, vợ chồng chung sống một thời gian ngắn thì cùng nhau đi làm ăn, hiện tại anh K không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh K không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Tại biên bản lấy lời khai bà Vi Thị L - Trú tại Bản L, xã C, tỉnh Nghệ An là mẹ đẻ của anh Trương Văn K cho biết, sau khi chị N và anh K kết hôn thì sống tại gia đình bà L đến năm 2023 hai vợ chồng cùng nhau đi làm công nhân thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thì bà không biết. Hiện tại chị N về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn anh K đi làm ăn xa, địa chỉ cụ thể thì bà L không biết, bà L đã nhận toàn bộ các văn bản tố tụng Tòa án đến tống đạt cho anh K và cam đoan sẽ giao tận tay, hoặc thông tin cho anh K biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trương Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Trương Văn K theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trương Văn K không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy chị Vi Thị N và anh Trương Văn K đăng ký kết hôn vào ngày 07/3/2022 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, nay là UBND xã C, tỉnh Nghệ An, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị N và anh Trương Văn K là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị N phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2024 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị N anh K đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh Trương Văn K vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị N và anh K xẩy ra nhiều mâu thuẫn và đã ly thân từ 2024 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại anh K không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh K không khai báo cắt thường trú và tạm vắng. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Vi Thị N và anh Trương Văn K không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn cho chị Vi Thị N được ly hôn với anh Trương Văn K.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị N có 01 người con chung Trương Hải Đ, sinh ngày 08/4/2022, nếu ly hôn chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay anh K không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh K nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét thấy nguyện vọng của chị N là chính đáng, cháu Đ đang còn nhỏ cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung: Chị Vi Thị N và anh Trương Văn K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Vi Thị N phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vi Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị N được ly hôn với anh Trương Văn K. Chị Vi Thị N và anh Trương Văn K chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao con chung Trương Hải Đ, sinh ngày 08/4/2022 cho chị Vi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Trương Văn K có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Vi Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nay là Phòng thi hành khu vực 9 - Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000863 ngày 09/6/2025.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND khu vực 9; - THADS tỉnh Nghệ An; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã C; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Lữ Thị Dung |