vanban.org

Bản án 55/2025/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/04/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/04/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Trần Văn D cho UBND xã Kim Bảng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc n…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bnar án hình sự phúc thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích độ…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Trần Văn D cho UBND xã Kim Bảng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HSPT
Ngày: 29/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh

Các Thẩm phán:

Bà Hà Thị Thanh Hương

Ông Nguyễn Quang Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hoàng – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 25/2025/TLPT-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về về tội “Cố ý gây thương tích”; do có kháng cáo của các đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D và kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị hại đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Văn D (tên gọi khác: không); sinh ngày 23 tháng 4 năm 2007 tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Long Biên, xã Kim Bảng (xã Thanh Long cũ), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: học sinh. Trình độ văn hóa: đang học lớp 11; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Bá, sinh năm 1975 và bà Phan Thị Hằng, sinh năm 1984; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại, áp D biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn D: Ông Trần Văn Bá, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Xóm Long Biên, xã Kim Bảng (xã Thanh Long cũ), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. (có mặt tại phiên tòa)

2. Phạm Văn Tiến D (tên gọi khác: không); sinh ngày 02 tháng 8 năm 2007 tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn Thủy Chung, xã Thanh Thủy), huyện Thnah Chương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: học sinh. Trình độ văn hóa: đang học lớp 11; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Hùng, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị Ngân, sinh năm 1987; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại, áp D biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn Tiến D: Bà Nguyễn Thị Ngân, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn Thủy Chung, xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. (có mặt tại phiên tòa)

* Đại diện hợp pháp cho bị hại có kháng cáo: Ông Nguyễn Đồng Khởi, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn Minh Đức, xã Kim Bảng (xã Võ Liệt cũ), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. (có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại: Cháu Nguyễn Anh Kiệt, sinh ngày 29/11/2007; Nơi cư trú: Thôn Minh Đức, xã Kim Bảng (xã Võ Liệt cũ), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. (có mặt tại phiên tòa)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Nguyễn Thị Thúy Kiều – Văn phòng luật sư Thanh Chương – Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An. (có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D: bà Võ Thị Hoài – Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. (có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào sáng ngày 16/12/2023, Trần Văn D cùng với Trần Nguyễn Đăng Khoa, sinh năm 2007, trú tại xóm Long Biên, xã Thanh Long, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) và Phạm Văn Tiến D đi bộ từ Phòng Y tế của trường Trung học phổ thông Đặng Thúc Hứa ở thôn Minh Đức, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương để về lớp. Khi đi qua hành lang lớp 11A3, D thấy Nguyễn Anh Kiệt, sinh năm 2007, trú tại thôn Minh Đức, xã Võ Liệt đang làm vệ sinh liền cười và nói: “Nhục, đời đi học mà để bị phạt”. Nghe vậy nên Kiệt chửi tục lại với D rồi cả hai lườm nhau rồi đi về lớp của mình. Khi về đến lớp 11C5, D và Khoa kể lại cho Trần Văn Bảo K và một số bạn trong lớp nghe chuyện vừa xích mích với K. Vào giờ học tiết thứ 3, Trần Văn D nói với K: “Hồi nựa lại coi tau đập thằng ni. Hồi nựa lại lớp quân nớ mà vô đập tau thì mi vô giúp tau với”, K hỏi lại: “Đập ai, vì răng đập?”. D trả lời: “Kiệt tộc. Hắn chửi tau”( ý D rủ K đi đánh Kiệt) thì K đồng ý.Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày 16/12/2023, sau khi hết học tiết 3 K đi cùng D đến lớp 11A3 tìm Nguyễn Anh Kiệt với mục đich để đánh Kiệt. Khi đi qua lớp 11C4, D thấy Phạm Văn Tiến D đang ở trong lớp nên D đi vào thì D cũng đi ra và gặp nhau tại khu vực gần cửa lớp học, D nói với D: “D, lại đập thằng Kiệt Khởi đầu A3 với tau” thì D đồng ý, nhưng do bạn ngăn lại nên D không đi cùng với D và K. Lúc này, D và K tiếp tục đi đến lớp 11A3 thì thấy Kiệt đang ngồi trong lớp ở bàn thứ hai thuộc dãy bên phải nhìn từ trên xuống, tại vị trí ở phía ngoài sát lối đi giữa lớp học nên D kêu: “Kiệt tộc, mi ra đây, khi nại mi nói cấy chi”. Thấy Kiệt không trả lời nên D chạy đến gần vị trí Kiệt đang ngồi và hỏi: “Mi nhớ khi nại mi nói chi nựa không?” thì Kiệt trả lời: “Mi định mần chi đó?”. Ngay sau đó, D dùng tay trái cầm cổ Kiệt thì Kiệt đứng dậy, lúc này D dùng tay phải tát một cái vào vùng mặt, vùng thái dương của Kiệt nên Kiệt cúi người xuống, hai tay ôm vào đầu. D tiếp tục dùng tay trái giữ vai phải rồi dùng tay phải đấm từ trước ra sau trúng vào vùng bụng của Kiệt nên Kiệt ngồi xuống và dùng hai tay che vùng mặt. Sau đó, D liên tiếp dùng tay phải đấm 02 (hai) phát từ phải qua trái trúng vào vùng đầu bên trái, dùng tay trái 01 (một) phát từ trái qua phải trúng vào vùng đầu bên phải của Kiệt. Tiếp đến, D dùng tay phải đấm từ trước ra sau, từ trên xuống dưới trúng vào phần vai trái của Kiệt. Trong khi D đang đánh Kiệt thì Trần Văn Bảo K đang đứng ở bục giảng đi đến, đứng đối diện, hơi chếch về bên trái so với Kiệt còn Kiệt vẫn đang ngồi dùng hai tay che lên hai đầu. Lúc này, K dùng tay phải tát từ phải qua trái, từ ngoài vào trong vào vùng mặt bên trái của Kiệt rồi dùng nắm tay phải đấm 02 (hai) phát từ phải qua trái, từ ngoài vào trong, phần ngón tay và lòng bàn tay trúng vào vùng đầu bên trái của Kiệt. Khi K đang đánh Kiệt thì D thì Trần Thị Kiều Trinh, sinh năm 2007, trú tại xã Võ Liệt chạy lại can ngăn, còn K cũng bị nhiều bạn trong lớp của Kiệt can ngăn nên không đánh Kiệt nữa. Sau đó, D trèo lên bàn, chạy ra ngoài cửa lớp 11A3 đi tìm Phạm Văn Tiến D để rủ D tiếp tục vào đánh Kiệt. Gặp D đang đứng ở hành lang lớp 11C4, D tiếp tục rủ D đi thì D lại bị bạn can ngăn nhưng lúc này D hất tay bạn ra và chạy theo D. D chạy vào lớp Kiệt, đến bàn giáo viên lấy thước để đánh Kiệt thì ngay khi đó D cũng đi vào còn K đang đứng ở bục giảng. Khi D định cầm thước đánh Kiệt thì được các bạn học sinh trong lớp 11A3 can ngăn, kéo ra khỏi lớp. Lúc này, Kiệt vẫn đang ngồi trên bàn học thứ ba thuộc dãy bên phải nhìn từ trên xuống, phía bên trong gần tường lớp học thì D đi đến, nhảy lên bàn học mà Kiệt đang ngồi, đứng đối diện, phía trước, dùng hai tay đấm liên tiếp 5-6 phát, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau trúng vào vùng đầu của Kiệt. Ngay sau đó, D dùng chân phải đá theo hướng từ phải qua trái 01 (một) phát trúng vào mạng sườn bên trái và 01 (một) phát trúng vào vùng đầu bên trái của Kiệt làm cho Kiệt ngã ngửa ra phía sau, đầu chạm vào tường. Sau đó, Phạm Văn Tiến D, Trần Văn D và Trần Văn Bảo K đi về lớp của mình. Đến chiều cùng ngày 16/12/2023, Kiệt có biểu hiện đau đầu, choáng váng, nên được người nhà đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Chương nhưng không nhập viện mà chuyển đến bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình Nghệ An để cấp cứu, điều trị với chẩn đoán bị chấn thương sọ não đến ngày 15/01/2024 thì ra viện.

Ngày 29/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Chương ra Quyết định trưng cầu giám định số 233/QĐ-CSĐT(ĐTTH) trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khoẻ, cơ chế hình thành và xác định vật gây thương tích đối với anh Nguyễn Anh Kiệt. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 712/KLTTTC/TTPYNA ngày 29/12/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Nghệ An kết luận:

« 1. Các kết quả chính:

- Một vết mổ lấy máu tụ và mảnh xương vỡ trán – đỉnh – thái dương chẩm bên trái.

- Khuyết xương hộp sọ đáy phập phồng trán – thái dương – đỉnh bên trái, kích thước 10 cm. Tụ máu ngoài màng cứng đã mổ lấy máu tụ. Hiện đang được điều trị tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Nghệ An.

- Đề nghị giám định bổ sung sau khi ra viện 1-2 tháng.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử D trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Anh Kiệt tại thời điểm giám định là 32% (Ba mươi hai phần trăm), áp D phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Vỡ xương thái dương bên trái, tụ máu ngoài màng cứng là do vật tày tác động gây nên.

+ Đầu bên trái hiện không có dấu vết tổn thương ngoài da nên không xác định được cơ chế./.

Ngày 15/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Chương ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 355/QĐ-ĐTTH trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ thương tích đối với anh Nguyễn Anh Kiệt. Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 126/KLTTTC/TTPYNA ngày 21/3/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Nghệ An kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Một sẹo mổ lấy máu tụ và mảnh xương vỡ trán – đỉnh – thái dương bên trái.

- Khuyết xương hộp sọ đáy phập phồng trán đỉnh bên trái, kích thước đường kính 13 cm.

- Tụ máu ngoài màng cứng thái dương đỉnh bên trái đã điều trị hiện tại không còn hình ảnh tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não.

2. Kết luận :

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử D trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Anh Kiệt tại thời điểm giám định là 47% (Bốn mươi bảy phần trăm), áp D phương pháp cộng tại Thông tư.

Ngày 24/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Chương ban hành Công văn số 280/CV-ĐTTH đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An biện luận cơ chế hình thành vết thương trên người bị hại Nguyễn Anh Kiệt.

Tại Công văn số 15/BL-KTHS(GĐ-PY) ngày 06/5/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự trả lời: “Do không có dấu vết tổn thương ngoài da, nên không có căn cứ để trả lời hành vi của Trần Văn D, Trần Văn Bảo K, Phạm Văn Tiến D (từng người) dùng tay, chân đánh, đá và làm anh Nguyễn Anh Kiệt bị ngã có thể gây nên dấu vết, thương tích của Nguyễn Anh Kiệt”.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra các gia đình của 03 bị cáo đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Anh Kiệt với tổng số tiền 353.141.000 đồng (Ba trăm năm mươi ba triệu, một trăm bốn mươi mốt nghìn đồng)

Cụ thể: Gia đình Trần Văn D đã bồi thường số tiền 145.620.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng); gia đình Phạm Văn Tiến D bồi thường số tiền 159.838.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu tám trăm ba mươi tám nghìn đồng); gia đình Trần Văn Bảo K bồi thường số tiền 47.683.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Nay người đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D, Trần Văn Bảo K bồi thường thêm số tiền 100.000.000 đồng ( Một trăm triệu đồng) là tiền chi phí cho Nguyễn Anh Kiệt phẫu thuật, điều trị sau này, trong đó có 1.611.000đồng (Một triệu, sáu trăm mười một đồng) đã chi phí ngày 25/12/2024.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101, điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Văn D 18 (Mười tám) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm văn Tiến D 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” . Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Văn Bảo K 16 (Mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn Bảo K cho UBND xã Kim Bảng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2 Về trách nhiệm dân sự. Căn cứ Điều 288, Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015.

-Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại, Ghi nhận sự tự nguyện của các đại diện hợp pháp của các bị cáo Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D và Trần Văn Bảo K.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngân, ông Trần Văn Bá và bà Trần Thị Hoa phải liên đới bồi thường tiếp cho cháu Nguyễn Anh Kiệt số tiền 1.611.000đồng (Một triệu, sáu trăm mười một đồng).

Chia kỷ phần:

Bà Nguyễn Thị Ngân phải bồi thường tiếp cho cháu Nguyễn Anh Kiệt số tiền 537.000đồng (Năm trăm ba bảy ngàn);

Bà Trần Thị Hoà phải bồi thường tiếp cho cháu Nguyễn Anh Kiệt số tiền 537.000đồng (Năm trăm ba bảy ngàn);

Ông Trần Văn Bá phải bồi thường tiếp cho cháu Nguyễn Anh Kiệt số tiền 537.000đồng (Năm trăm ba bảy ngàn).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đồng Khởi, người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Nguyễn Anh Kiệt về việc yêu cầu các bị cáo Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D và Trần Văn Bảo K bồi thường tiếp số tiền chi phí phẫu thuật cho bị hại sau này với số tiền 98.389.000đồng(Chín mươi tám triệu, ba trăm tám chín ngàn đồng)

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, đại diện hợp pháp cho các bị cáo, Người bào chữa cho các bị cáo, người bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31 tháng 12 năm 2024, đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D ông Trần Văn Bá kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo Trần Văn D được hưởng án treo với lý do: bị cáo Trần Văn D đang ở độ tuổi chưa đủ 18 tuổi, hiện đang đi học, lần đầu phạm tội. Ngày 31 tháng 12 năm 2024, đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Văn Tiến D bà Nguyễn Thị Ngân kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo Phạm Văn Tiến D được hưởng án treo với lý do: bị cáo Trần Văn D đang ở độ tuổi chưa đủ 18 tuổi, hiện đang đi học, lần đầu phạm tội, có ông ngoại có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Anh Kiệt kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D; tăng hình phạt đối với Trần Văn Bảo K. Không yêu cầu Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D bồi thường trách nhiệm dân sự. Yêu cầu Trần Văn Bảo K phải bồi thường 50.000.000 đồng. Trước khi mở phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại rút kháng cáo đối với bị cáo Trần Văn Bảo K và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Trần Văn Bảo K.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Văn Tiến D và Trần Văn D giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo Phạm Văn Tiến D và Trần Văn D được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:

- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Văn Tiến D và Trần Văn D, kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị hại giữ nguyên mức hình phạt tù và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Về kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị hại đối với Trần Văn Bảo K do trước khi mở phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại rút đơn kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Trần Văn Bảo K nên không xem xét.

Các bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và chứng cứ, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D; của đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Anh Kiết được gửi trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các đại diện hợp pháp cho bị cáo và bị hại là chủ thể có quyền kháng cáo và nội dung kháng cáo phù hợp với giới hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các đại diện hợp pháp cho bị cáo và bị hại theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D và Trần Văn Bảo K khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản án sơ thẩm. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 16/12/2023 tại lớp 11A3 Trường Phổ thông trung học Đặng Thúc Hứa, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, do mâu thuẫn cá nhân nên Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D và Trần Văn Bảo K đã có hành vi dùng tay, chân đấm, đá, tát vào vùng đầu, vùng mặt của Nguyễn Anh Kiệt, sinh ngày 29/11/2007 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 47% (Bốn mươi bảy phần trăm). Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và nhà trường nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D và Trần Văn Bảo K về tội “Cố ý gây thương tích” điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D; kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị hại:

[3.1]. Về nội dung kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D: Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của người khác tại khu vực trường học, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân và học sinh tại nhà trường. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Văn D 18 (mười tám) tháng tù và Phạm Văn Tiến D 17 (mười bảy) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên cần xem xét việc các bị cáo phạm tội khi đang ở lứa tuổi dưới 18 tuổi, sau khi phạm tội đã thật thà khai báo ăn năn hối cải. gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo. Để tạo điều kiện cho các bị cáo được tiếp tục học tập, và để đảm bảo nguyên tắc xử lý bị cáo dưới 18 tuổi. Nên cần chấp nhận đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D. Sửa án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù đối với bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D và cho bị các bị cáo được hưởng án treo.

[3.2]. Về nội dung kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo Trần Văn Bảo K và yêu cầu bị cáo phải bồi thường thểm 50.000.000 đồng của đại diện hợp pháp cho bị hại:

Trước khi mở phiên tòa Đại diện hợp pháp cho bị hại đã có đơn xin rút kháng cáo đối với bị cáo Trần Văn Bảo K, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Trần Văn Bảo K nên Hội đồng xét xử không xem xét. Quyết định về hình phạt của bị cáo Trần Văn Bảo K có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị hại được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D, Sửa án sơ thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Trần Văn D và Phạm Văn Tiến D:

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn D 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tiến D 17 (mười bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 34 (Ba mươi bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn D cho UBND xã Kim Bảng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Giao bị cáo Phạm Văn Tiến D cho UBND xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử D án phí và lệ phí Tòa án; đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn D, Phạm Văn Tiến D; đại diện hợp pháp cho bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ