- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Đình B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2025/HS-ST Ngày 14/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hương
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Phúc
Ông Đinh Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn B - Kiểm sát viên. Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ tên: Trương Đình B1, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1994, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: tổ I, ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trương Đình H, sinh năm 1965 và bà Trương Thị Thảo L, sinh năm 1970; bị cáo là con lớn trong gia đình có 03 anh em. Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2024 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L – Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ. Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Anh Lê Bá H1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Đình B1 là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy bắt đầu từ năm 2023, B1 sử dụng dưới hình thức hút ma túy đá (Methamphetamine).
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 10/12/2024, khi B1 đang trên đường đi chợ L1 mua đồ thì gặp người thanh niên tên thường gọi là C, khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ), B1 hỏi mua 600.000 đồng ma tuý đá, C đồng ý, B1 đưa cho Cu 600.000 đồng, C
- 1 -
cầm tiền và nói B1 đứng chờ rồi đi đâu không rõ. Khoảng 10 phút sau, C quay lại nói với B1 là ma túy Cu để trong gói thuốc lá được để tại gốc cây của Công viên C heo, thuộc khu phố A, phường X, thành phố L. B1 đến nơi mà C nói, lấy 01 gói thuốc lá bên trong có 01 bịch nylon màu trắng, phía trên có kẹp zip, bên trong có 08 gói nylon màu trắng hàn kín chứa ma tuy đá. B1 cất giấu trong người mang về nhà tại tổ I, ấp C, xã B, thành phố L, sử dụng hết 01 gói ma tuý đá và cất giấu 07 gói ma túy đá còn lại trong hộp nhựa nhằm mục đích để sử dụng dần. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, Công an xã B kiểm tra hành chính nhà B1 tại tổ I, ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện trong phòng ngủ của B1 có 01 hộp giấy màu trắng trên bàn, bên trong có 01 gói nylon màu trắng, phía trên có kẹp zip, bên trong có 07 gói ma túy đá; thu giữ bên ngoài phòng ngủ của B1 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong ma túy theo quy dịnh pháp luật.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, B1 đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng của mình.
Tại Bản kết luận giám định số 2542/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,2352g, loại Methamphetamine (Bút lục số 30)
Trong quá trình điều tra, Trương Đình B1 đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSLK ngày 20/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo Trương Đình Bình về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng dần, ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số 63/CT-VKSLK ngày 20/3/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trương Đình B1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: không đề nghị.
Về xử lý vật chứng: 07 gói ma túy loại Methamphetamine, toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong 01 phong bì niêm phong, ký hiệu số: 2542/KL-K THS ngày 18/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 nỏ thủy tinh (đã qua sử dụng) là dụng cụ B1 dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- 2 -
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo Trương Đình B1 khai nhận hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, tại căn nhà không số thuộc tổ I, ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Công an xã B đã bắt quả tang Trương Đình B1 có hành vi cất giấu trong nhà 07 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,2352gam với mục đích sử dụng dần. Hành vi tàng trữ 1,2352gam ma túy của Trương Đình B1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 63/CT-VKSLK ngày 20/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Trương Đình B1 về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
Đối với người đàn ông tên C mà bị cáo Trương Đình B1 khai đã bán ma túy cho B1 tại khu vực Công viên C heo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt sức lao động; làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của người sử dụng, mà còn là nguyên nhân nảy sinh nhiều hành vi phạm tội khác. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành của bản thân, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy còn lại sau giám định và 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- 3 -
[7] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Trương Đình B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trương Đình B1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/12/2024.
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mẫu vật sau giám định số 2542/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ cùng 01 nỏ thủy tinh.
(Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/3/2025).
3/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Đình B1 phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
̣
4/ Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Long Khánh; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án dân sự TPLK; - Bị cáo; - Lưu HS, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đồng Thị Hương - 4 - - 5 - |