vanban.org

Bản án 55/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, b, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, b, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HS-ST
Ngày 25 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mùi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Hào.

Bà Nguyễn Thị Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 12/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HS, ngày 12/12/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T, sinh năm 1961 tại Bình Phước. Nơi cư trú: ấp 9, xã TL, huyện ĐP, tỉnh BP (nay là tổ 25, thôn 3, xã ĐP, tỉnh ĐN); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Thái (chết) và Nguyễn Thị Hoa (chết); tiền án: 02 tiền án: Tội Cướp tài sản của công dân, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sông Bé xử phạt 09 năm tù, tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST ngày 26/4/1994. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/2001, nhưng chưa chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 50.000 đồng và hình phạt tiền số tiền 250.000 đồng. Tội Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 19, Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên phạt 01 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2025; tiền sự: 01 tiền sự, bị Ủy ban nhân dân xã An Bình, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là xã PG, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản ngày 20/9/2024. Về nhân thân: Ngày 04/5/2023, bị Ủy ban nhân dân xã TL, huyện ĐP, tỉnh BP xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, chấp hành nộp phạt ngày 14/5/2023. Ngày 08/9/2011, bị đưa vào cơ sở giáo dục, tại Quyết định số 2009/QĐ-UB(NC) ngày 06/9/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh BP, chấp hành xong ngày 08/6/2013.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ 3, ấp BT, xã PG, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 29/08/2025, Nguyễn Anh T đón xe buýt đi từ xã ĐP, tỉnh ĐN đến xã PG, thành phố Hồ Chí Minh, mục đích tìm nhà dân sơ hở trong quản lý tài sản vào trộm cắp tài sản. Bị cáo đi bộ dọc theo đường Đ741, khi đi đến một cửa hàng tạp hóa (không tên) ven đường thuộc ấp BT, xã PG, thành phố Hồ Chí Minh do ông Dương Văn Đ làm chủ, bị cáo nảy sinh ý định giả vờ vào mua nước uống nhằm mục đích có tài sản thì lấy trộm. Bị cáo đi bộ đến chỗ của ông Đức nói chuyện và hỏi mua một chai nước ngọt. Ông Đức đi vào lấy nước để bán, Tuấn đi theo ông Đức vào trong cửa hàng đứng trước cửa, bên cạnh tủ kính nơi ông Đức để điện thoại hiệu Nokia 105 4G, màu xanh. Bị cáo quan sát thấy điện thoại của ông Đức và lợi dụng lúc ông Đức lấy nước, bị cáo lén lút trộm cắp chiếc điện thoại của ông Đức rồi cất giấu vào túi quần. Khi ông Đức ra đưa nước cho bị cáo, bị cáo trả tiền nước rồi bỏ đi. Khoảng 15 phút sau thì ông Đức kiểm tra phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu Nokia để trên tủ kính bị mất nên ông Đức đến cơ quan Công an xã PG trình báo. Trích xuất camera an ninh tại nhà ông Đức và qua xác minh, xác định bị cáo là đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Đức nên triệu tập bị cáo về Công an xã PG để làm rõ hành vi phạm tội. Qua làm việc bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 8164/KL-HĐĐGTS ngày 03/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp thành phố kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G, màu xanh đã qua sử dụng, có giá trị là 273.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSKV19-HS ngày 10/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 4G màu xanh là tài sản của bị hại Dương Văn Đ. Ngày 27/10/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho ông Đức, ông Đức đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm, viện kiểm sát không đề cập. 01 (một) áo dài tay sọc ca rô có chữ GUESS màu trắng; 01 (một) quần dài màu kem có chữ VERSACE màu trắng; 01 (một) nón lưỡi trai màu nâu xám. Đây là đồ dùng cá nhân của bị cáo Đức, không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Trong lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối hận và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại ông Dương Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt, quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của ông Đức không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Bản kết luận định giá tài sản số 8164/KL-HĐĐGTS ngày 03/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố Hồ Chí Minh; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/8/2025, tại cửa hàng tạp hóa của ông Dương Văn Đ, tọa lạc ấp BT, xã PG, thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo có hành vi lén lút trộm 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia 105 4G, màu xanh có giá 273.000 đồng của bị hại. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp tuy chưa đủ yếu tố định khung hình phạt nhưng bị cáo Nguyễn Anh T có 02 tiền án chưa được xóa án tích; 01 tiền sự về tội Trộm cắp tài sản. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng số 09/CT-VKSPG ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Bị cáo không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an trong khu vực, ảnh hưởng đến tâm lý chung của nhân dân tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội. Vì vậy, HĐXX thấy cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội để cải tạo bị cáo thành công dân có ích, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Anh T có 02 tiền án: Tội Cướp tài sản của công dân, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sông Bé xử phạt 09 năm tù, tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST ngày 26/4/1994. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/9/2001, nhưng chưa chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 50.000 đồng và hình phạt tiền số tiền 250.000 đồng. Tội Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên phạt 01 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2025 đều chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 273.000 đồng. Trong trường hợp này, tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” được xem xét là dấu hiệu “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” để xác định cấu thành tội phạm của lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản này. Còn tiền án về tội “Cướp tài sản” được xem là “Tái phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 04/5/2023, bị Ủy ban nhân dân xã TL, huyện ĐP, tỉnh BP xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, chấp hành nộp phạt ngày 14/5/2023. Ngày 08/9/2011, bị đưa vào cơ sở giáo dục, tại Quyết định số 2009/QĐ-UB(NC) ngày 06/9/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh BP, chấp hành xong ngày 08/6/2013.

Do đó, HĐXX sẽ cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo để xét xử bị cáo một mức án phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 4G màu xanh của bị hại Dương Văn Đ. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho ông Đức, ông Đức đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. HĐXX không xem xét xử lý.

- 01 (một) áo dài tay sọc ca rô có chữ GUESS màu trắng; 01 (một) quần dài màu kem có chữ VERSACE màu trắng; 01 (một) nón lưỡi trai màu nâu xám. Đây là đồ dùng cá nhân của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh về tội danh, hình phạt và các tình tiết khác đối với bị cáo cũng như về xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì về tội danh, về hình phạt, vật chứng và các vấn đề khác. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm a, b, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Các Điều 135, 136, 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2025.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo dài tay sọc ca rô có chữ GUESS màu trắng; 01 (một) quần dài màu kem có chữ VERSACE màu trắng; 01 (một) nón lưỡi trai màu nâu xám.

(Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11 tháng 11 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ