vanban.org

Bản án 55/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NG ngọc Gi - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 55/2025/HS-ST
Ngày: 21 -3- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Th;

Ông Nguyễn Hoàng A.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Y - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ch - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST

- HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/HSST-QĐ ngày 11/3/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Gi, sinh năm: 1988 tại tỉnh Bình Dương; CCCD: 074088007767; nơi đăng ký thường trú: Số 16/2, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, (chết) và bà Sâm Thị Ng; bị cáo chưa có vơ, con.

Tiền án:

Ngày 25/6/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 145/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2020.

Ngày 15/9/2020, bị Tòa án nhân dân quận (nay là thành phố) A, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 248/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2021.

Ngày 19/7/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản số: 197/2022/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/6/2024.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 07/5/2008, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 42 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích tại bản án số 142/2008/HSST.

Ngày 04/3/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng tại Cơ sở xã hội Trung tâm giáo dục lao động tạo việc làm tỉnh Bình Dương.

Ngày 11/12/2018, bị Công an phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Hà Thanh V, sinh năm 1974; nơi thường trú: Số 15S/15, khu phố Bình Đáng, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Sâm Thị Ng, sinh năm 1955; nơi thường trú: Số 16/2, khu phố T, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1992; nơi thường trú: Thôn Nam Sơn, xã S, thị xã S, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Người làm chứng:

Nguyễn Bích Ng. Vắng mặt.

Nguyễn Thị Diễm M. Vắng mặt.

Nguyễn Hữu S. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đươc tóm tắt như sau:

Bản thân Nguyễn Ngọc Gi có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa đươc xóa án tích. Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 30/10/2024, Nguyễn Ngọc Gi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh, biển số: 61C1-513.66 chở bà Nguyễn Thị Ngọc H, chạy đến địa chỉ số 45E/15, khu phố Đ, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại đây, Gi phát hiện căn ki ốt của ông Hà Thanh V, mở cửa hông phía sau, đèn chiếu sáng bên trong nhưng không thấy người nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Thực hiện ý định, Gi dừng xe mô tô bên ngoài cách căn ki ốt khoảng 10 mét và nói bà Hiên đứng chờ chút, rồi Gi đi bộ vào trong ki ốt lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen trắng, phím bấm của ông V đang để trên máy giặt rồi cầm trên tay đi ra ngoài tẩu thoát. Thời điểm này, ông V phát hiện, liền truy hô đuổi theo bắt giữ Gi.

Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen trắng.

Tại bản kết luận định giá ngày 01/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen trắng có trị giá 300.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKS-TA ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Gi về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Gi mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Về xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, truy tố: Bị hại; người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan có lời khai phù hơp với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải và xin đươc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đươc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc Gi đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hơp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 30/10/2024, tại địa chỉ số 45E/15, khu phố Bình Đáng, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Ngọc Gi đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen trắng có trị giá 300.000 đồng của ông Hà Thanh V thì bị phát hiện, bắt giữ. Nguyễn Ngọc Gi đã có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa đươc xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản. Trong vụ án này, bị cáo Gi là người trực tiếp thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất an ninh trật tự tại nơi bị cáo gây án. Bị cáo là người còn trẻ, có khả năng lao động lẽ ra bị cáo phải tìm cho mình một nghề nghiệp ổn định, tích cực lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, chăm lo cho gia đình nhưng vì tham lam, lười lao động mà bị cáo đã dấn thân vào con đường phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm để trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không tu dưỡng rèn luyện để lấy đó làm bài học, mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đươc chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đen trắng là tài sản của bị hại ông Hà Thanh V nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho ông V là có căn cứ.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yahama Sirius màu trắng xanh, biển số: 61C1-513.66, số máy 5C6H100783, số khung RLCS5C6H0EY100770 do bị cáo Nguyễn Ngọc Gi sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh đươc biết xe mô tô trên do bà Sầm Thị Ngọc, làm chủ sở hữu, bà Ngọc cho bị cáo Gi mươn làm phương tiện đi lại, không biết bị cáo Gi sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho bà Ngọc là có căn cứ.

Đối với 01 (một) áo dân quân tự vệ màu xanh, dài tay; 01 (một) quần Jeans dài màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm ba sọc màu đen của Nguyễn Ngọc Gi mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Gi không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Gi 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 10 năm 2024.

2 Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bà Sầm Thị Ng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yahama Sirius, màu trắng xanh, biển số: 61C1-513.66, số máy 5C6H100783, số khung RLCS5C6H0EY100770.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo dân quân tự vệ màu xanh, dài tay; 01 (một) quần Jeans dài màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm ba sọc màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An và Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc Gi phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đươc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đươc bản án hoặc kể từ ngày bản án đươc niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ