vanban.org

Bản án 55/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Vũ Văn T1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị T được ly hôn ông Vũ Văn T1. Về con chung: Giao con chung là Vũ Bảo L, sinh ngày 11/4/2014 cho ông Vũ Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Đỗ Thị T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Vũ Văn T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Vũ Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 12 - 3 - 2025.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đại.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.

2. Ông Phan Anh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1494/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 424/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Hẻm E, tổ A, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T và ông T1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T1 tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Hà Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm, hay xung đột, không còn tôn trọng lẫn nhau. Vợ chồng bà ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về con chung: Bà và ông T1 có 01 con chung là Vũ Bảo L, sinh ngày 11/4/2014. Theo đơn khởi kiện bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết bà thay đổi yêu cầu về nuôi con, bà đồng ý giao con chung cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Vũ Văn T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Đỗ Thị T kết hôn với nhau vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Hà Nam. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng gần đây vợ ông bỏ đi về B gần 3 năm nay. Bà T làm đơn xin ly hôn ông không đồng ý, ông muốn vợ chồng hàn gắn đoàn tụ.

- Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung là Vũ Bảo L, sinh ngày 11/4/2014. Hiện nay cháu L đang sống chung với ông, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con ông không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 con chung là Vũ Bảo L, sinh ngày 11/4/2014. Ly hôn, giao con chung cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng; tạm thời bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

- Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Ông Vũ Văn T1 cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nên đơn khởi kiện của bà Đỗ Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Đỗ Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn Vũ Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T, ông T1 theo khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Hà Nam vào năm 2009, đã được Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Hà Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà T có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông T1 nên Tòa án áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T1 xảy ra từ năm 2021 đến nay, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, hay xẩy ra xung đột, không tôn trọng nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2021 đến nay. Hai vợ chồng đã tìm cách hòa giải, khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 thừa nhận vợ chồng ông ly thân hôn 3 năm nay. Ông T1 không đồng ý ly hôn, tuy nhiên, từ lúc hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ly thân đến nay ông cũng không có biện pháp gì để vợ chồng ông khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ với nhau.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định nhưng ông T1 vắng mặt, không tham gia phiên hòa giải đoàn tụ và không tham gia tố tụng tại phiên tòa, chứng tỏ ông T1 không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của mình.

Từ những nhận định trên, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà bà T và ông T1 là có thật, vợ chồng không còn có sự quan tâm, chăm sóc nhau. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà T, bà T được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 con chung là Vũ Bảo L, sinh ngày 11/4/2014. Hiện nay cháu L đang sống chung với ông T1, ông T1 có đi làm, có mức thu nhập hàng tháng đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ông T1 yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà T cũng đồng ý giao con chung cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T1, giao con chung là Vũ Bảo L, sinh ngày 11/4/2014 cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con ông T1 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Sau ly hôn, bà T được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà T và ông T1 trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T khởi kiện về ly hôn nên phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Vũ Văn T1.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị T được ly hôn ông Vũ Văn T1.

- Về con chung: Giao con chung là Vũ Bảo L, sinh ngày 11/4/2014 cho ông Vũ Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.

Sau ly hôn, bà T được quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Đỗ Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 004128 ngày 06/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

3. Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ